K
Khách

Hãy nhập câu hỏi của bạn vào đây, nếu là tài khoản VIP, bạn sẽ được ưu tiên trả lời.

26 tháng 3

Câu 1: Phân tích những nét tinh tế về nội dung và nghệ thuật của bài thơ Thần đạo học .

Bài thơ Thần đạo học của tác giả Nguyễn Khoa Viêm có những vết thươngcủa tác giả Nguyễn Khoa Viêm có những nét đặc sắc rõ ràng về cả nội dung và nghệ thuật. Về nội dung, bài thơ thể hiện niềm tin ngày chắc chắn, lo của người học trò trước con đường học vấn đầy gian nan, kiên cố. Tác giả không chỉ trình bày sự kính trọng đối với tri thức mà vẫn thấy được sự khó khăn trong công việc tiếp theo và hiển thị với con đường học tập. Thông qua hình ảnh những vật lộn với các bài học, bài thơ gửi một thông điệp về sự cần cù, chăm chỉ và không ngừng nỗ lực trong học tập.

Về nghệ thuật, bài thơ có sự kết hợp giữa hình ảnh so sánh, ẩn và biểu cảm sâu sắc. Những từ ngữ như "học hành như nội cơm" hay "bước chân nặngu" không chỉ vẽ ra sự gian nan mà còn thể hiện sự nỗ lực không ngừng nghỉ của người học. Ngoài ra, thể thơ tự do và cách sử dụng nhịp điệu linh hoạt cũng tạo nên gần gũi, dễ tiếp cận cho người đọc. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng của người học trò chơi mà còn là một lời khuyên về sự triển khai và lòng quyết tâm trong công việc tiếp theo thu tri thức.

Câu 2: Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về ý thức học tập của học sinh hiện nay.

Bài văn nghị luận về ý thức học tập của học sinh hiện nay

Trong xã hội hiện đại, học tập luôn được xem là chìa khóa mở cửa tương lai, giúp mỗi cá nhân phát triển toàn diện và đạt được thành công trong cuộc sống. Tuy nhiên, hiện nay, ý thức học tập của sinh viên đang là một vấn đề đáng sợ. Mặc dù có nhiều học sinh chăm chỉ, ham học, nhưng không ít bạn lại tỏ ra thờ ơ, thiếu trách nhiệm trong việc học tập. Vậy tại sao ý thức học tập của học sinh lại có sự phân hóa như vậy? Và làm thế nào để nâng cao ý thức học tập trong cộng đồng học sinh hiện nay?

Trước đó, chúng ta cần nhận thức rằng, ý thức học tập của sinh viên hiện nay đã bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Một trong số đó là sự mạnh mẽ mạnh mẽ của các phương tiện giải trí đa phương tiện, đặc biệt là các thiết bị công nghệ hiện đại. Các trò chơi điện tử, mạng xã hội tạo ra sinh viên dễ dàng sao nhãng và mất tập trung vào công việc học. Thêm vào đó, áp lực từ gia đình và xã hội cũng khiến nhiều sinh viên cảm thấy mệt mỏi, không còn động lực để học hành một cách nguy hiểm. Một số học sinh thiếu sự định hướng rõ ràng về tương lai và không hiểu được tầm quan trọng của việc học nên thiếu động lực phấn đấu.

Tuy nhiên, chúng tôi không thể phủ nhận rằng, trong xã hội ngày nay, việc học vẫn là yếu tố vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của mỗi cá nhân. Học tập không chỉ giúp học sinh tiếp theo tri thức mà còn rèn luyện tính năng chiến đấu, tinh thần trách nhiệm và khả năng giải quyết vấn đề. Để nâng cao ý thức học tập của học sinh, trước đây, gia đình và nhà trường cần phải tạo ra một môi trường học tập tích cực, động viên, khuyến khích học sinh phát triển hết khả năng của mình. Các thầy cô giáo cần chú ý đến việc dạy một cách sáng tạo gần gũi, giúp học sinh nhận thấy giá trị thực sự của tri thức, từ đó tạo ra động lực học tập giác giác.

Bên cạnh đó, học sinh cũng phải tự ý thức được vai trò của mình trong việc học tập. Các em cần hiểu rằng, học tập không chỉ là nhiệm vụ mà còn là cơ hội để phát triển bản thân. Khi học sinh nhận thức được mức độ tầm quan trọng của học tập và chủ động trong công việc học thì kết quả học tập sẽ được cải thiện tốt hơn. Học sinh cần biết quản lý thời gian hợp lý, hạn chế các yếu tố gây sao nhãng và chủ động tìm kiếm tri thức từ nhiều nguồn khác nhau.

Bên cạnh công việc học tập ở trường lớp, học sinh cũng cần tích cực tham gia các hoạt động ngoại khóa, thực hành, nghiên cứu khoa học để phát triển các kỹ năng sống và ứng dụng kiến ​​thức vào thực tế. Hoạt động này không chỉ giúp học sinh phát triển toàn diện mà còn giúp các em nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của việc học và vai trò của mình trong cộng đồng.

Tóm tắt, ý tưởng học tập của học sinh hiện nay là vấn đề cần được quan tâm


Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý kiến: “Ai cũng cần có một “điểm neo” trên tấm bản đồ rộng lớn của cuộc đời”. Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật của văn bản sau đây.       Việt Nam ơi Việt Nam ơi! Đất nước tôi yêu Từ lúc nghe lời ru của mẹ Cánh cò bay...
Đọc tiếp

Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý kiến: “Ai cũng cần có một “điểm neo” trên tấm bản đồ rộng lớn của cuộc đời”.

Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật của văn bản sau đây.

      Việt Nam ơi

Việt Nam ơi!
Đất nước tôi yêu
Từ lúc nghe lời ru của mẹ
Cánh cò bay trong những giấc mơ
Từ lúc nghe truyền thuyết mẹ Âu Cơ
Từ lúc tôi còn chập chững tuổi thơ

Việt Nam ơi!
Đất mẹ dấu yêu
Của những con người
Đã bao đời đầu trần chân đất
Mà làm nên kỳ tích bốn ngàn năm
Qua bể dâu
Dẫu có điêu linh, dẫu có thăng trầm
Hào khí oai hùng muôn đời truyền lại
Để thác ghềnh rồi cũng vượt qua
Đường đến vinh quang nhiều bão tố phong ba

Việt Nam ơi!
Tiếng gọi từ trái tim
Nghe đâu đây lời tổ tiên vang vọng
Vận nước thịnh, suy, khát khao luôn cháy bỏng
Vượt những đảo điên, xây dựng ước mơ
Đường thênh thang nhịp thời đại đang chờ

Việt Nam ơi!
Đất nước bên bờ biển xanh
Toả nắng lung linh lòng người say đắm
Những bi hùng suốt chiều dài sâu thẳm
Và trăn trở hôm nay luôn day dứt trong lòng
Tiếng yêu thương vang vọng giữa trời không
Ơi Việt Nam!

                         (Huy Tùng, Thuở ấy, NXB Hội Nhà văn, TP Hồ Chí Minh, 2017)

* Chú thích:

- Huy Tùng sinh ngày 10/04/1960, tên thật là Vũ Minh Quyền, quê ở xã Ninh Xuân, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, trú tại quận Tân Bình, thành phố Hồ Chí Minh. Năm 18 tuổi, ông vào bộ đội và tham gia chiến trường K từ tháng 8/1978 đến tháng 9/1980, về học tại Trường Sĩ quan Lục quân 2 đến khi tốt nghiệp năm 1983 và làm cán bộ, giáo viên tại đây đến hết tháng 10/1988.

- Bài thơ đã được nhạc sĩ Hoàng Mạnh Toàn phổ thành ca khúc cùng tên.

0
Câu 1 (2.0 điểm). Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về mối quan hệ giữa lao động và ước mơ.  Câu 2 (4.0 điểm). Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ "Nhớ" của Nguyễn Đình Thi.                        Nhớ Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây Ngọn...
Đọc tiếp

Câu 1 (2.0 điểm). Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về mối quan hệ giữa lao động và ước mơ. 

Câu 2 (4.0 điểm). Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích, đánh giá tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ "Nhớ" của Nguyễn Đình Thi. 

                      Nhớ

Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh
Soi sáng đường chiến sĩ giữa đèo mây
Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh
Sưởi ấm lòng chiến sĩ dưới ngàn cây

Anh yêu em như anh yêu đất nước
Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần
Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước
Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn

Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt
Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời
Ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực
Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người.

* Chú thích: 

- Nguyễn Đình Thi (1924 - 2003) là một nghệ sĩ đa tài. Ông sáng tác nhạc, làm thơ, viết tiểu thuyết, kịch, tiểu luận phê bình; ở lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp đáng trân trọng. Thơ ông tự do, phóng khoáng mà vẫn hàm súc, sâu lắng, suy tư, dạt dào cảm xúc, giàu nhạc điệu và có nhiều tìm tòi theo hướng hiện đại. 

- Bài thơ "Nhớ" của Nguyễn Đình Thi được tác giả sáng tác trong kháng chiến chống Pháp, là một trong những bài thơ tình hay thời chống Pháp và cũng là một trong những bài thơ tình đặc sắc của nền thơ Việt Nam hiện đại.

1

Câu 1: Đoạn văn nghị luận về mối quan hệ giữa lao động và ước mơ (khoảng 200 chữ)

Lao động và ước mơ là hai mặt không thể tách rời của cuộc sống, chúng có mối quan hệ biện chứng, tác động và bổ sung cho nhau. Ước mơ là ngọn lửa thắp sáng con đường, là động lực thúc đẩy con người lao động và sáng tạo. Lao động là phương tiện để biến ước mơ thành hiện thực, là quá trình rèn luyện bản lĩnh và khẳng định giá trị bản thân. Không có lao động, ước mơ chỉ là những viễn cảnh xa vời, không có giá trị thực tiễn. Ngược lại, lao động mà không có ước mơ sẽ trở nên khô khan, nhàm chán và thiếu định hướng.

Ước mơ giúp con người vượt qua khó khăn, thử thách trong lao động, đồng thời lao động giúp con người trưởng thành và hoàn thiện bản thân, từ đó nuôi dưỡng và phát triển ước mơ. Hãy lao động bằng cả trái tim và khối óc, hãy theo đuổi ước mơ bằng tất cả nhiệt huyết và đam mê, bạn sẽ gặt hái được thành công và hạnh phúc.

Câu 2: Bài văn nghị luận phân tích, đánh giá tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ "Nhớ" của Nguyễn Đình Thi (khoảng 600 chữ)

Bài thơ "Nhớ" của Nguyễn Đình Thi là một khúc ca tình yêu nồng nàn, da diết, được cất lên từ trái tim của một người chiến sĩ trong những năm tháng kháng chiến chống Pháp gian khổ. Bài thơ không chỉ là tiếng lòng của riêng tác giả mà còn là tiếng lòng của cả một thế hệ thanh niên Việt Nam thời bấy giờ, những người đã gác lại tình riêng để lên đường bảo vệ Tổ quốc.

Ngay từ những câu thơ đầu tiên, ta đã cảm nhận được nỗi nhớ da diết, cồn cào của nhân vật trữ tình. Nỗi nhớ ấy được thể hiện qua những hình ảnh thiên nhiên quen thuộc, gần gũi như ngôi sao, ngọn lửa. Ngôi sao "lấp lánh" như đang "nhớ ai", ngọn lửa "hồng đêm lạnh" như đang "sưởi ấm lòng" người chiến sĩ. Thiên nhiên cũng mang tâm trạng của con người, cũng biết nhớ nhung, da diết.

Nỗi nhớ ấy không chỉ là nỗi nhớ riêng tư mà còn là nỗi nhớ hòa quyện với tình yêu đất nước. "Anh yêu em như anh yêu đất nước", câu thơ khẳng định tình yêu đôi lứa và tình yêu Tổ quốc là một, là không thể tách rời. Trong hoàn cảnh chiến tranh, tình yêu cá nhân càng trở nên thiêng liêng và cao đẹp, là nguồn sức mạnh giúp người chiến sĩ vượt qua mọi khó khăn, gian khổ.

Điệp ngữ "anh nhớ em" được lặp lại nhiều lần trong bài thơ, nhấn mạnh nỗi nhớ thường trực, da diết của nhân vật trữ tình. Nỗi nhớ ấy len lỏi vào từng bước chân, từng bữa ăn, giấc ngủ, trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của người chiến sĩ.

Bài thơ kết thúc bằng những câu thơ đầy lạc quan và tin tưởng vào tương lai. "Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt", "ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực", đó là những hình ảnh tượng trưng cho tình yêu bất diệt, cho ý chí kiên cường và niềm tin chiến thắng của dân tộc Việt Nam.

Với thể thơ tự do, ngôn ngữ giản dị, giàu hình ảnh và nhạc điệu, Nguyễn Đình Thi đã vẽ nên một bức tranh tâm trạng chân thực, sâu sắc của người chiến sĩ trong kháng chiến chống Pháp. Bài thơ "Nhớ" không chỉ là một bài thơ tình hay mà còn là một bài ca yêu nước, một biểu tượng của tình yêu và lòng dũng cảm của con người Việt Nam.

Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) đưa ra những giải pháp giúp thế hệ trẻ hiện nay không chùn bước trước nghịch cảnh. Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật của văn bản sau đây.      Những dòng sông quê hương Những dòng sông quê hương muôn đời cuộn chảy Mang nguồn sống phù sa đất bãi Bồi đắp nghìn...
Đọc tiếp

Câu 1. (2.0 điểm) Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) đưa ra những giải pháp giúp thế hệ trẻ hiện nay không chùn bước trước nghịch cảnh.

Câu 2. (4.0 điểm) Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật của văn bản sau đây.

     Những dòng sông quê hương

Những dòng sông quê hương
muôn đời cuộn chảy
Mang nguồn sống phù sa đất bãi
Bồi đắp nghìn năm nên xóm nên làng

Những dòng sông còn lưu hương
rừng xanh, núi thắm
Chỉ có lòng sông mới hiểu
nước mắt, mồ hôi, máu thấm ruộng đồng
tiếng vọng ngàn xưa
khao khát chờ mong...

Có ngày sông lặng nghe đất chuyển
tiếng đoàn quân rầm rập trở về
Thuyền chen chật bến
Dân vạn chài cười vang trên sóng

Mùa xuân tới
Chim bay theo dòng
Núi rừng lưu luyến
Sông trôi xuôi bỗng sáng mênh mông...

(Trích Những dòng sông quê hương, Bùi Minh Trí, NXB Hội Nhà văn, 2007)

* Chú thích:

- Bùi Minh Trí sinh ngày 6/11/1939, là nhà giáo, nhà thơ, quê ở Hải Dương. Ông là Chủ nhiệm CLB Thơ Nhà giáo Hội Cựu giáo chức Việt Nam.

- Bài thơ Những dòng sông quê hương nằm trong tập thơ cùng tên, được xuất bản năm 2007, thể hiện vẻ đẹp thiên nhiên, gửi gắm những tình cảm sâu sắc, tưởng nhớ những giá trị văn hóa, lịch sử của đất nước.

1

Câu 1: Đoạn văn (khoảng 200 chữ) đưa ra những giải pháp giúp thế hệ trẻ hiện nay không chùn bước trước nghịch cảnh.

Nghịch cảnh là một phần tất yếu của cuộc sống, và thế hệ trẻ ngày nay cần được trang bị những kỹ năng và phẩm chất để vượt qua những khó khăn, thử thách. Để không chùn bước trước nghịch cảnh, các bạn trẻ cần:

  • Xây dựng tinh thần lạc quan, tích cực: Hãy nhìn nhận nghịch cảnh như một cơ hội để học hỏi và trưởng thành.
  • Rèn luyện ý chí kiên cường, bản lĩnh vững vàng: Đừng dễ dàng bỏ cuộc khi gặp khó khăn, hãy luôn nỗ lực và cố gắng hết mình.
  • Trau dồi kiến thức, kỹ năng: Việc trang bị cho mình những kiến thức và kỹ năng cần thiết sẽ giúp bạn tự tin đối mặt với mọi thử thách.
  • Tìm kiếm sự hỗ trợ từ gia đình, bạn bè và cộng đồng: Đừng ngại chia sẻ những khó khăn của mình với những người xung quanh, họ sẽ là nguồn động viên và giúp đỡ quý giá.
  • Học cách quản lý cảm xúc: Khi đối mặt với nghịch cảnh, hãy học cách kiểm soát cảm xúc tiêu cực và giữ cho mình một tâm trạng ổn định.
  • Luôn giữ vững niềm tin vào bản thân: Hãy tin rằng bạn có đủ khả năng để vượt qua mọi khó khăn và đạt được thành công.

Câu 2: Bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích những nét đặc sắc về nghệ thuật của văn bản "Những dòng sông quê hương" của Bùi Minh Trí.

Bài thơ "Những dòng sông quê hương" của Bùi Minh Trí là một khúc ca trữ tình sâu lắng, thể hiện tình yêu quê hương đất nước tha thiết qua hình ảnh những dòng sông. Bài thơ không chỉ gây ấn tượng bởi nội dung giàu cảm xúc mà còn bởi những nét đặc sắc về nghệ thuật.

Trước hết, tác giả đã sử dụng hình ảnh "những dòng sông quê hương" như một biểu tượng nghệ thuật độc đáo. Những dòng sông không chỉ là những thực thể địa lý mà còn là những chứng nhân lịch sử, mang trong mình những giá trị văn hóa và tinh thần của dân tộc. Hình ảnh dòng sông "muôn đời cuộn chảy" gợi lên sự trường tồn, vĩnh cửu của quê hương đất nước.

Bên cạnh đó, tác giả đã khéo léo sử dụng các biện pháp tu từ như ẩn dụ, nhân hóa, điệp ngữ để tăng tính biểu cảm cho bài thơ. Dòng sông "mang nguồn sống phù sa đất bãi" là một ẩn dụ về sự nuôi dưỡng, bồi đắp của quê hương đối với con người. Hình ảnh "lòng sông mới hiểu nước mắt, mồ hôi, máu thấm ruộng đồng" là một sự nhân hóa, thể hiện sự đồng cảm sâu sắc của dòng sông với những nỗi đau và mất mát của dân tộc. Điệp ngữ "những dòng sông" được lặp lại nhiều lần, nhấn mạnh vai trò quan trọng của dòng sông trong đời sống của người dân.

Không chỉ vậy, bài thơ còn có sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố trữ tình và yếu tố lịch sử. Những câu thơ như "tiếng vọng ngàn xưa khao khát chờ mong..." hay "tiếng đoàn quân rầm rập trở về" đã tái hiện lại những trang sử hào hùng của dân tộc, khơi dậy lòng tự hào và tình yêu quê hương trong lòng người đọc.

Ngoài ra, bài thơ còn có nhạc điệu du dương, trầm lắng, phù hợp với cảm xúc hoài niệm và suy tư của tác giả. Nhịp điệu của bài thơ như một dòng chảy nhẹ nhàng, êm đềm, đưa người đọc vào một không gian trữ tình sâu lắng.

Tóm lại, bài thơ "Những dòng sông quê hương" của Bùi Minh Trí là một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc, thể hiện tình yêu quê hương đất nước sâu sắc và lòng tự hào dân tộc của tác giả. Những nét đặc sắc về nghệ thuật của bài thơ đã góp phần tạo nên sức lay động mạnh mẽ trong lòng người đọc.

Bài thơ "Đôi nạng" của Thanh Tùng là một tác phẩm đầy cảm xúc và sâu sắc, nói về tình cảm giữa cha và con trong hoàn cảnh đặc biệt của chiến tranh.

Bài thơ mở đầu với một hình ảnh hạnh phúc của ngày khai trường, khi cha mua cho con đủ mọi thứ, từ sách vở, quần áo đến đồ chơi. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là cha đã quên mua cho con đôi nặng mới, điều mà mỗi đứa trẻ đều cần để bước vào một năm học mới.

Thiếu vắng đôi nặng mới đã tạo ra một khoảnh khắc đầy ý nghĩa, khi con nhắc nhở cha về sự quên lãng này. Tuy nhiên, điều đáng buồn hơn là cha không chỉ quên mất việc mua đôi nặng mới, mà còn phải đối mặt với việc con bị ảnh hưởng bởi chiến tranh, khiến cho chiếc nặng cũ không còn phù hợp với việc con lớn lên.

Từ "nạng" không chỉ là một vật dụng thông thường mà còn mang ý nghĩa biểu tượng về sự chăm sóc, sự quan tâm của cha đối với con. Sự thiếu vắng của đôi nặng mới cũng là một hình ảnh tượng trưng cho những thiếu sót, những hậu quả của cuộc chiến tranh mà con đang phải chịu đựng.

Tóm lại, bài thơ "Đôi nạng" không chỉ là một bức tranh về mối quan hệ cha con mà còn là một cảm nhận sâu sắc về những khó khăn, những tổn thương mà chiến tranh mang lại cho những gia đình, những đứa trẻ.