Câu 1 (1 điểm):

Trình bày cảm nhận của em về ý nghĩa nhan đề bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận.

Hướng dẫn giải:

- Nhan đề bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” có hai thông báo, một là đoàn thuyền, hai là việc nó đang đánh cá.

Đoàn thuyền đánh cá

                      Hình ảnh lao động tập thể             công việc của ngư dân

- Làm hiện lên hình ảnh “đoàn thuyền” trên biển cả -> hình ảnh của lao động tập thể.

- “Đánh cá” là công việc của các ngư dân trên biển.

=> Nhận xét:

+ Thơ Huy Cận xưa nói về chiếc thuyền cô đơn thì nay đã “đoàn thuyền” tấp nập, đông vui trong công việc khai thác tài nguyên vô tận của biển khơi.

+ Điều thú vị nữa là nhan đề nói về “đoàn thuyền” mà làm hiện lên con người – những chủ nhân mới của biển cả. Họ là hình ảnh trung tâm của bài thơ, trung tâm cảm hứng của Huy Cận. Họ bước vào việc lao động như bước vào một ngày hội lớn. Ngay từ nhan đề, bài thơ đã bộc lộ rõ chất tráng ca lao động khỏe khoắn.


Câu 2 (1 điểm):

Phân tích khúc tráng ca ra khơi được thể hiện trong hai khổ đầu bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận.

Hướng dẫn giải:

- Khung cảnh ra khơi được diễn tả trong một thời điểm khá đặc biệt: đúng lúc hoàng hôn buông xuống, thiên nhiên dọn dẹp chuẩn bị nghỉ ngơi:

Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then đêm sập cửa

Qua trí tưởng tượng độc đáo của Huy Cận, hoàng hôn hiện lên thật kì vĩ: mặt trời lặn như “hòn lửa” lớn bị nhúng nước; sóng vỗ ngang như “cài then”, bóng đêm như tấm cửa lớn “sập” xuống mau lẹ. Hàng loạt so sánh, nhân hóa, ẩn dụ làm vũ trụ vào đêm như có hồn, vũ trụ được hình dung như một ngôi nhà lớn vào đêm với những động tác như con người: tắt lửa, cài then, sập cửa… Màn đêm là tấm cửa khổng lồ, những lượn sóng là then cài, thiên nhiên mang vẻ mênh mang, huyền bí, đầy thách thức với con người.

- Cũng vào thời khắc ấy, con người bắt đầu hành trình lao động thật hào hứng:

Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Câu hát căng buồm cùng gió khơi

Con người không rợn ngợp trước thiên nhiên rộng lớn mà tự hào, tự tin làm cuộc chinh phục vũ trụ.

+ Chữ “lại” vừa gợi quan hệ tương phản, vừa gợi quan hệ tương đồng. Tương phản với thiên nhiên (vũ trụ đi vào nghỉ ngơi, còn đoàn thuyền “lại” bắt đầu cuộc hành trình. Tương đồng với chính nó (đoàn thuyền thường xuyên ra khơi như thế, hành trình lặp đi lặp lại không biết bao lần rồi, đêm nối đêm, thuyền nối thuyền, con người lao động gọi vũ trụ cùng thao thức với mình).

+ Ba hình ảnh đan kết nhau, khỏe, lạ và đầy lãng mạn. Cánh buồm căng mở nhờ sự hợp lực của “gió khơi” (thiên nhiên) và “câu hát” (con người). Đó cũng là sự hợp lực của sức mạnh vật chất và tinh thần. “Câu hát” được đặt đầu dòng thơ gây ấn tượng về sức mạnh của niềm vui đưa con thuyền băng băng lướt sóng. Hình tượng câu hát còn đi suốt bài thơ, tạo nên giai điệu hào hùng, khỏe khoắn của người lao động mới – làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc sống.

- Từ mặt biển bao la, câu hát phơi phới bay lên khúc tráng ca tâm hồn của người lao động:

Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng

Cá thu biển Đông như đoàn thoi

Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng

Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi!

+ Câu hát vút lên, mở ra hình ảnh “cá bạc”, “cá thu… - những loài cá quý của biển khơi. Đó là hình ảnh rừng vàng biển bạc, là âm hưởng ngợi ca sự giàu đẹp của Tổ quốc.

+ Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng là một câu thơ đẹp: Cá bơi lội tung tăng mà “dệt” thành biển cả, “muôn luồng sáng” làm biển lấp lánh cá, lấp lánh sự sang giàu.

+ Từ “dệt biển” đến “dệt lưới” là phép chơi chữ thú vị và ý nghĩa, chữ “dệt’ trong “dệt biển” là vẻ đẹp của nguồn tài nguyên vô tận, chữ “dệt” trong “dệt lưới” là vẻ đẹp của thành quả, của sản phẩm lao động. Chiếc lưới nhiều cá, cứ ngỡ là dệt thành lưới. Biển đẹp giàu đã cho ta sự giàu đẹp.

=> Nhận xét: Hai khổ thơ mở đầu vừa gợi khung cảnh, vừa diễn tả hành động, vừa bộc lộ cảm hứng. Cùng với cánh buồm của đoàn thuyền, cánh buồm cảm hứng thơ Huy Cận cũng kịp căng lên và băng băng ra khơi.


Câu 3 (1 điểm):

Phân tích khúc tráng ca lao động trên biển (qua khổ 3, 4, 5, 6) trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận.

Hướng dẫn giải:

- Cảm hứng lãng mạn là đòn bẩy cho nhà thơ phát hiện những vẻ đẹp lộng lẫy của cảnh đánh cá trên biển trong đêm trăng với niềm vui phơi phới, khỏe khoắn của người lao động làm chủ cuộc đời, làm chủ trời biển quê hương.

- Cho nên đoàn thuyền ra khơi tìm luồng cá với một tư thế mới, đẹp một cách hùng tráng và thơ mộng:

Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Lướt giữa mây cao với biển bằng

Ra đậu dặm xa dò bụng biển

Dàn đan thế trận lưới vây giăng

+ Hình ảnh “thuyền”, “gió”, “trăng”, “mây”, “biển” vốn không có gì đặc biệt vì đó chỉ là không gian lao động quen thuộc của ngư dân. Nhưng thủ pháp phóng đại của cảm hứng lãng mạn đã thổi một nguồn sinh lực lớn vào các hình ảnh, biến cái bình thường thành cái khác thường, tạo nên hiệu quả thẩm mĩ thú vị. Hai động từ “lái”, “lướt” đã kết nối các hình ảnh thành một không gian vũ trụ đặc biệt: con thuyền nhỏ bé bỗng được nâng lên tầm vóc thật lớn lao khi nó được đặt trong tương quan với bốn hình ảnh kì vĩ: gió, trăng, mây cao, biển bằng. Con thuyền ở giữa, làm chủ tất cả, lấy gió làm lái, lấy trăng làm buồm, lấy mây cao, biển bằng làm không gian lướt sóng. Con thuyền chính là con người, con người mang tầm vóc vũ trụ, làm chủ vũ trụ và cuộc đời.

+ Tầm vóc ấy đặt con người vào tư thế tiến công, tư thế chinh phục thiên nhiên:

Ra đậu dặm xa dò bụng biển

Dàn đan thế trận lưới vây giăng

Cụm từ “dàn đan thế trận” đẹp về hình ảnh lẫn tư thế của người lao động mới. Về hình ảnh, đó là trùng trùng điệp điệp những con thuyền được tổ chức thành một thế trận vây bắt cá. Về tư thế, nó làm thay đổi mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Xưa thiên nhiên lấn át con người, nay con người không chỉ hài hòa mà làm chủ thiên nhiên, cải thiện thiên nhiên, bắt thiên nhiên làm giàu có cho con người. “Dàn đan thế trận” là tư thế tiến công, tư thế của con người đã giành được sự chủ động trong đời.

- Cho nên, con người gọi cá như gọi bạn:

Cá nhụ, cá chim cùng cá đé

Cá song lấp lánh đuốc đen hồng

Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe

Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long

+ Huy Cận muốn làm một cuốn từ điển cá bằng thơ: đoạn trên đã có cá bạc, cá thu, ở đây tiếp tục liệt kê cá nhụ, cá chim cùng cá đé. Cá thật nhiều, thật ngon. Nhưng nếu chỉ có thế, cá cũng chỉ là cá. Chữ “em” ấm áp, thân mật, trìu mến, yêu thương khiến tên cá được gọi lên náo nức như tiếng gọi bạn lòng.

+ Nhưng cá còn đẹp nữa: con cá song thân dài, có nhiều chấm tròn đen và hồng giúp nhà thơ sang tạo ra một hình ảnh thú vị “Cá song lấp lánh đuốc đen hồng”. Chế Lan Viên cũng từng có một liên tưởng thú vị:

Con cá song cầm đuốc dẫn thơ về

                                                                                                             (Cành phong lan bể)

Con cá Huy Cận là hình ảnh tả thực: Phép so sánh với hình ảnh ngọn đuốc làm hình ảnh cá sinh động, lấp lánh như ngọn lửa trong biển khơi. Con cá Chế Lan Viên là hình ảnh suy tưởng: từ con cá đẹp dẫn đến nguồn thơ hay. Thiên nhiên khơi nguồn cho cảm hứng thơ ca. Con cá song đốt đuốc tìm thơ, hay chính thơ đốt đuốc đi tìm cái đẹp của cá, cái đẹp của đời để làm nên cái đẹp trong thơ.

-> Song dẫu tả thực hay suy tưởng, hai hình ảnh thơ đều đẹp và giàu sức gợi cảm.

+ Cái đẹp còn làm biển cả sống động, lung linh, huyền ảo: cái đuôi cá như tỏa sáng câu thơ, tỏa sáng biển cả: “Cái đuôi em quẫy trăng vàng chóe”. Chữ “chóe” thật đẹp, có khả năng phát sáng, ánh trăng dát vàng trên biển, cá quẫy làm nước bắn tung lên thành ánh sáng khiến đuôi cá như quẫy vào trăng, làm bừng sáng cả biển khơi. Sức tưởng tượng của Huy Cận thật táo bạo, cái đuôi cá của thơ ông nối biển với trăng, nối đất với trời.

+ Những vì sao in bóng bồng bềnh trên “sóng” cũng làm nên một sáng tạo bất ngờ của Huy Cận:

Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long

“Sao” và “nước” là hai hình ảnh tĩnh, chữ “lùa” biến tĩnh thành động khiến “sao” bồng bềnh trên “sóng”, “sóng” bồng bềnh cùng nhịp “sao”, nhịp sóng nhịp sao bồng bềnh thành nhịp thở của vũ trụ. Cảm hứng vũ trụ của nhà thơ làm nên những hình ảnh đẹp như huyền thoại, cứ như thuở trời đất mới sinh ra.

- Con người không chỉ gọi cá như gọi bạn mà còn gọi biển như gọi mẹ:

"Ta hát bài ca gọi cá vào                =>   góp nhạc

Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao"

"Biển cho ta cá như lòng mẹ          =>    góp giàu

Nuôi lớn đời ta tự buổi nào"

Huy Cận nhận hai đóng góp lớn lao của biển:

+ Thiên nhiên góp nhạc cho con người: “Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao”. Trăng in mặt nước, sóng xô bóng trăng như gõ vào mạn thuyền tạo nên nhịp trăng để xô cá vào lưới. Nhịp thiên nhiên hòa âm với nhịp con người, tạo nên bản hòa tấu lao động đầy đam mê.

+ Thiên nhiên còn góp giàu cho con người: Con người không chỉ chinh phục thiên nhiên mà còn nghiêng mình biết ơn mẹ - thiên nhiên “Biển cho ta cá như lòng mẹ”. Phép so sánh vừa đầy đặn về tấm lòng, vừa sâu sắc về ý thức: coi thiên nhiên là mẹ, thiên nhiên là cái nôi lớn, là nguồn dinh dưỡng bất tận của con người. Con người vừa khai thác, vừa biết ơn và trân trọng thiên nhiên. Mọi thái độ bất kính, xúc phạm thiên nhiên sẽ đem đến mối họa lớn cho con người.

- Sao mờ dần, đêm tận dần, vũ trụ chuyển mình, nhịp điệu lao động càng gấp gáp hơn, con người say mê lao động và say mê thiên nhiên:

Sao mờ kéo lưới kịp trời sáng

Ta kéo xoăn tay chùm cá nặng

Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông

Lưới xếp buồm lên đón nắng hồng

Huy Cận quả là một họa sĩ tài ba: ông sử dụng hình khối và ánh sáng rất điêu luyện khiến cảnh kéo lưới bắt cá hiện ra như trong một bức tranh sơn mài rực rỡ. Người lao động là trung tâm bức tranh. Vẻ đẹp hình khối tụ vào hai chữ “xoăn tay” đầy chất tạo hình, thật gân guốc, chắc khỏe, gợi những đường cơ bắp cuồn cuộn kéo lên mẻ lưới trĩu nặng cá bạc cá vàng. Câu thơ “Vẩy bạc đuôi vàng lóe rạng đông” tạo một hiệu quả kép: chữ “lóe” là vị ngữ khiến rạng đông như bừng lên từ vẩy bạc đuôi vàng, sắc cá làm ra sắc trời, mặt khác, rạng đông làm lóe sắc cá màu hồng của bình minh tưới vào vũ trụ làm ấm bức tranh, vẩy cá, đuôi cá bắt ánh sáng lóe sắc bạc sắc vàng hay là bạc vàng trong kho trời vô tận thưởng công cho nỗ lực lao động của con người.

=> Nhận xét: Bốn khổ thơ giữa là trung tâm bức tranh lao động của bài thơ. Cánh buồm của lao động và cánh buồm thơ ca cùng căng phồng cảm hứng, khúc tráng ca lao động ngây ngất đến cao trào. Hình ảnh người lao động vừa hòa nhập với thiên nhiên, vừa là trung tâm của bức tranh thiên nhiên tạo nên những hình ảnh thơ tuyệt đẹp, vừa lãng mạn, vừa bay bổng.


Câu 4 (1 điểm):

Phân tích khúc ca khải hoàn khi đoàn thuyền đánh cá trở về trong khổ thơ cuối bài Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận.

Hướng dẫn giải:

- Không gian thơ vận động từ “mặt trời xuống biển” (khổ 1) đến “mặt trời đội biển” (khổ 7), tức là từ đêm tối ra bình minh, từ bóng tối ra ánh sáng, đồng thời hành trình đánh cá cũng vận động từ lúc ra khơi đến lúc trở về trong thắng lợi.

Câu hát căng buồm với gió khơi

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời

Mặt trời đội biển nhô màu mới

Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi

Câu đầu khổ cuối bài thơ lặp lại câu cuối khổ đầu (với một biến thể nhỏ: thay chữ “cùng” thành chữ “với”) tạo ra một phép trùng điệp đầy âm vang của khúc tráng ca lao động: “câu hát” theo suốt hành trình lao động của người dân chài, đoàn thuyền ra khơi bằng tiếng hát, đánh cá trên biển cùng tiếng hát, trở về vẫn hát vang. Bốn chữ “hát” lặp lại trong bài thơ ngân nga như một điệp khúc hào hùng rạo rực điềm vui.

- Đoạn thơ dựng lại cuộc đua tốc độ: giữa đoàn thuyền và mặt trời, giữa con người và vũ trụ. Nhà thơ hai lần sử dụng phép song hành giữa thiên nhiên và con người: lần 1 ở câu 2 song hành trong một câu thơ (“đoàn thuyền” ở đầu câu, “mặt trời” ở cuối câu), lần 2 ở câu 3 và 4 song hành qua hai câu thơ “mặt trời” ở câu 3, “mắt cá” ở câu 4. Sự song hành ấy chứng tỏ cả hai tới đích cùng thời gian, không có kẻ thắng người thua tạo thành một kết thúc thật huy hoàng, tạo nên hai câu thơ hài hòa như hai vế đối: mặt trời tỏa sáng trên cao, mắt cá tỏa sáng dưới biển, muôn triệu mắt cá lấp lánh như những “mặt trời bé thơ”. Mắt cá trở thành biểu tượng rực rỡ của thành quả lao động, biểu tượng lấp lánh niềm hi vọng vào tương lai. Phép đối giữa “mặt trời” và “mắt cá” một lần nữa lại nâng con người ngang tầm vũ trụ.


Câu 5 (1 điểm):

Hãy chép chính xác khổ thơ ca ngợi sự giàu có, phong phú và đẹp đẽ của biển khơi trong bài Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận.

Hướng dẫn giải:

Cá nhụ cá chim cùng cá đé,

                               Cá song lấp lánh đuốc đen hồng,

                               Cái đuôi em quẫy trăng vàng choé,

                               Đêm thở: sao lùa nước Hạ Long.


Câu 6 (1 điểm):

Cho hai câu thơ:

"Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Lướt giữa mây cao với biển bằng"

(Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận)

Hai câu thơ trên sử dụng biện pháp nghệ thuật nào? Nêu tác dụng.

Hướng dẫn giải:

Biện pháp tu từ được sử dụng trong hai câu thơ là:

+ Biện pháp nhân hóa và ẩn dụ “lái gió”, “lướt giữa mây cao”. Nói là nhân hóa vì tác giả đã dùng những từ ngữ chỉ hành động của con người như “lái”, “lướt” để miêu tả con thuyền.

=> Gợi lên tư thế làm chủ của đoàn thuyền…

+  Ẩn dụ ở đây là ẩn dụ cách thức, con thuyền giữa biển khơi có cảm giác như đang lái theo cả gió, cả trăng đêm. Làn nước dưới biển và mây cao trên trời như hòa cùng vào một và con thuyền nhẹ lướt qua.

+ Phép đối: “mây cao” đối với “biển bằng”

=> Con thuyền như mang sinh lực của đất trời để đánh cá trên biển.


Câu 7 (1 điểm):

Mở đầu bài thơ, Huy Cận viết:

"Mặt trời xuống biển như hòn lửa"

Và tác giả khép lại bài thơ bằng bốn câu:

"Câu hát căng buồm với gió khơi

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời

Mặt trời đội biển nhô màu mới

Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi".

(Đoàn thuyền đánh cá, Huy Cận)

1. Em hãy cho biết mạch cảm xúc của bài thơ được trình bày theo trình tự nào?

2. Chép lại chính xác 2 câu thơ liên tiếp trong bài thơ thể hiện rõ lòng biết ơn của con người với biển cả quê hương.

Hướng dẫn giải:

1. Mạch cảm xúc của bài thơ được triển khai theo trình tự thời gian: từ cảnh đoàn thuyền ra khơi đến khi trở về.

2. Hai câu thơ thể hiện lòng biết ơn của những ngư dân với biển cả quê hương trong bài thơ Đoàn thuyền đánh cá là:                     

Biển cho ta cá như lòng mẹ

Nuôi lớn đời ta tự buổi nào


Câu 8 (1 điểm):

Phân tích 2 khổ thơ đầu bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận.

Hướng dẫn giải:

1/ Giới thiệu chung:

- Huy Cận là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới với những tác phẩm nổi tiếng như Lửa thiêng, Vũ trụ ca,... Sau Cách mạng, ông nhanh chóng hòa nhập vào công cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc chống thực dân Pháp  xâm lược. Hòa bình lập lại, từng trang thơ Huy Cận ấm áp hơi thở của cuộc sống mới đang lên.

- Bài thơ "Đoàn thuyền đánh cá" nằm trong tập "Trời mỗi ngày lại sáng", được sáng tác ở Hòn Gai, năm 1958, nhân một chuyến tác giả đi thực tế  dài ngày. Ra đời giữa bối cảnh miền Bắc mới hoà bình, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhân dân thực sự được làm chủ cuộc đời, làm chủ đất nước, bài thơ được đánh giá là một trong những bài thơ hay của thơ ca Việt Nam hiện đại.

- Khổ thơ đã tái hiện một cách sinh động cảnh ra khơi của đoàn thuyền.

 2/ Phân tích:

a/ Khổ 1 - Cảnh đoàn thuyền ra khơi:

* Được xây dựng trên nền của một buổi hoàng hôn tuyệt đẹp.

- Hình ảnh so sánh độc đáo trong câu 1: "Mặt trời xuống biển như hòn lửa" tái hiện một không gian kì vĩ, tráng lệ của cảnh hoàng hôn trên biển.

+ Điểm nhìn nghệ thuật: nhìn từ con thuyền đang ra khơi.

+ Thời gian: hoàng hôn -> sự vận động của thời gian.

+ Quang cảnh hùng vĩ của bầu trời lúc chiều tà -> vẻ đẹp kì vĩ, tráng lệ của cảnh hoàng hôn trên biển.

-  Biện pháp tu từ nhân hóa ở câu 2: "Sóng đã cài then đêm sập cửa"

+ Được sáng tạo từ chi tiết thực: những con sóng cài ngang như chiếc then cửa của vũ trụ. Bóng đêm “sập cửa” gợi khoảnh khắc mặt trời vụt tắt và màn đêm bất ngờ buông xuống bao trùm tất cả.

+ Gợi không gian vũ trụ rộng lớn, mênh mông, kì vĩ mà vẫn gần gũi, ấm áp như ngôi nhà của con người.

* Hình ảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi:

- Chữ “lại” vừa chỉ một sự kiện lặp đi lặp lại vừa chỉ sự trái chiều vì khi vũ trụ đã kết thúc một ngày dài để lặng vào yên nghỉ thì đoàn thuyền đánh cá lại bắt đầu một cuộc lao động mới -> Gợi một nhịp sống thanh bình của quê hương, đất nước. Sau bao năm tháng chiến tranh con người Việt Nam mới có một cuộc sống lao động bình yên.

- “Câu hát căng buồm cùng gió khơi”: Sự kết hợp hai hình ảnh: “câu hát” và “gió khơi” đã cụ thể hóa sức mạnh đưa con thuyền ra khơi. Nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác “câu hát căng buồm” đã tái hiện vẻ đẹp tâm hồn, niềm vui lao động của người dân chài - đoàn thuyền ra khơi trong niềm vui lao động.

* Câu hát của người dân chài:

- Biện pháp liệt kê: “cá bạc”, “cá thu”…-> sự giàu có của biển.

- Bút pháp tả thực kết hợp với trí thưởng tượng phong phú:

+ Tả đàn cá thu giống như con thoi đang bơi lượn mà như dệt tấm vải giữa biển đêm bừng muôn luồng sáng -> liên tưởng đến dệt luwois của đoàn thuyền.

+ Gợi những vệt nước ấp lánh khi đàn cá bơi lội.

+ Niềm vui của người dân chài. Những đàn cá như thoi đứa là niềm hứa hẹn chuyến về bội thu “khoang đầy cá nặng”

=> Hai khổ đầu, tác giả phác họa thành công một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng. Qua đó, ông đã làm hiện lên cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi và tâm hồn phóng khoáng, tràn đầy niềm vui, niềm hi vọng của người lao động mới.

3/ Kết luận: Đoàn thuyền đánh cá là một bài ca lao động hứng khởi, hào hùng. Nhà thơ ca ngợi biển cả mênh mông - nguồn tài nguyên bất tận của Tổ quốc, ca ngợi những con người lao động cần cù, gan góc, ngày đêm làm giàu cho đất nước. 


Câu 9 (1 điểm):

Cho câu thơ: "Mặt trời xuống biển như hòn lửa".

(Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận)

1. Chép chính xác 7 câu thơ tiếp theo.

2. Nội dung của các câu thơ trên là gì?

Hướng dẫn giải:

a.

Sóng đã cài then đêm sập cửa

 Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi

Câu hát căng buồm cùng gió khơi

Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng

Cá thu biển Đông như đoàn thoi

Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng

Đến dệt lưới ta đoàn cá ơi!

b.     Nội dung: Miêu tả cảnh ra khơi của đoàn thuyền đánh cá - cảnh ngày tàn mà vẫn ấm áp, tràn đầy niềm vui, niềm lạc quan của người lao động.


Câu 10 (1 điểm):

"Mặt trời xuống biển như hòn lửa

Sóng đã cài then đêm sập cửa"

1. Hai câu thơ trên trích từ bài thơ nào? Của ai? Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ.

2. Hai câu thơ trên sử dụng biện pháp tu từ nào? Hình ảnh trong câu thơ gợi cho em liên tưởng gì?

Hướng dẫn giải:

a.     Hai câu thơ trên trích trong bài “Đoàn thuyền đánh cá”của Huy Cận.

- Bài thơ được viết vào năm 1958, in trong tập “Trời mỗi ngày lại sáng”. Đó là kết quả của chuyến đi thực tế ở vùng mỏ Quảng Ninh. Bài thơ là khúc tráng ca ca ngợi cảnh lao động tập thể và người lao động trong khung cảnh thiên nhiên, đất nước giàu đẹp.

b. Hai câu thơ sử dụng biện pháp tu từ: So sánh và nhân hóa.

- So sánh: mặt trời như hòn lửa:

Hình ảnh so sánh trong câu thơ giúp người đọc hình dung rõ bức tranh hoàng hôn trên biển vừa tráng lệ, huy hoàng vừa sống động, kì thú. Hoàng hôn buông xuống nhưng không gian không chìm vào bóng tối mà rực lên ánh sáng, trên mặt nước lại cháy bùng ngọn lửa. Hình ảnh thiên nhiên cũng gợi lên sức sống, không khí hào hứng, náo nức của những người ngư dân trong buổi ra khơi đánh cá.

- Nhân hóa: mặt trời xuống, sóng… cài… sập

Gợi ra cho người đọc những liên tưởng, tưởng tượng vũ trụ vào đêm: mặt trời như bếp lửa hồng, màn đêm phủ từ trên cao như cánh cửa ngôi nhà lớn kéo xuống, còn sóng thì như những chiếc then cài cửa màn đêm lại. Vũ trụ khổng lồ, kì vĩ, tráng lệ.

Link bài học:
Thảo luận
1

Chuyện người con gái Nam Xương - Nguyễn Dữ

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Bài tập tự luận

2

Hoàng Lê nhất thống chí - Ngô gia văn phái

 1. Bài tập trắc nghiệm

 2. Bài tập tự luận

3

Chị em Thúy Kiều - Nguyễn Du

 1. Bài tập trắc nghiệm

 2. Bài tập tự luận

4

Cảnh ngày xuân - Nguyễn Du

 1. Bài tập trắc nghiệm

 2. Bài tập tự luận

5

Kiều ở lầu Ngưng Bích - Nguyễn Du

 1. Bài tập trắc nghiệm

 2. Bài tập tự luận

6

Đồng chí - Chính Hữu

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Hệ thống đề luyện

7

Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Hệ thống đề luyện

8

Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận

 1. Video bài giảng

 2. Hệ thống đề luyện

 3. Bài tập trắc nghiệm

 4. Bài tập tự luận

9

Bếp lửa - Bằng Việt

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Bài tập tự luận

10

Ánh trăng - Nguyễn Duy

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Hệ thống đề luyện

11

Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải

 1. Video bài giảng

 2. Hệ thống đề luyện

 3. Bài tập trắc nghiệm

12

Sang thu - Hữu Thỉnh

 1. Video bài giảng

 2. Hệ thống đề luyện

 3. Bài tập trắc nghiệm

13

Viếng lăng Bác - Viễn Phương

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Bài tập tự luận

14

Nói với con - Y Phương

 1. Video bài giảng

 2. Hệ thống đề luyện

 3. Bài tập trắc nghiệm

15

Lặng lẽ Sa Pa - Nguyễn Thành Long

 1. Video bài giảng

 2. Hệ thống đề luyện

 3. Bài tập trắc nghiệm

16

Làng - Kim Lân

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Bài tập tự luận

17

Những ngôi sao xa xôi - Lê Minh Khuê

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Bài tập tự luận

18

Chiếc lược ngà - Nguyễn Quang Sáng

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

19

Bến quê - Nguyễn Minh Châu

 1. Bài tập trắc nghiệm

 2. Bài tập tự luận

20

Văn bản nhật dụng

 1. Phong cách Hồ Chí Minh - Lê Anh Trà

 2. Phong cách Hồ Chí Minh

 3. Bàn về đọc sách - Chu Quang Tiềm

 4. Bàn về đọc sách

 5. Tiếng nói của văn nghệ - Nguyễn Đình Thi

 6. Tiếng nói của văn nghệ

 7. Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới - Vũ Khoan

 8. Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới