Câu 1 (1 điểm):

Trình bày về vị trí, thể thơ, khái quát nội dung và bố cục của đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích?

Hướng dẫn giải:

1. Vị trí đoạn trích, thể thơ, ngôn ngữ, khái quát nội dung đoạn trích

   + Đoạn trích nằm ở phần hai “Gia biến và lưu lạc” của tác phẩm “Truyện Kiều”. Sau khi biết mình bị lừa vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn. Tú bà vờ hứa hẹn đợi Kiều bình phục sẽ gả chồng cho nàng vào nơi tử tế, rồi đưa Kiều ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, đợi thực hiện âm mưu mới

   + Tác giả đã sử dụng thể thơ lục bát kết hợp ngon ngữ chọn lọc, giàu hình ảnh, mang tính biểu cảm cao.

   + Đoạn trích khắc họa cảnh ngộ cô đơn, buồn tủi và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo của Thúy Kiều.

2. Bố cục 3 phần: 

- 6 câu đầu: Khung cảnh thiên nhiên lầu Ngưng Bích và tâm trạng cô đơn, buồn tủi của Kiều

- 8 câu tiếp: Nỗi nhớ thương của Kiều về người thân

- 8 câu cuối: Tâm trạng đau buồn, lo âu của Kiều qua cách nhìn cảnh vật


Câu 2 (1 điểm):

Khung cảnh thiên nhiên ở lầu Ngưng Bích và tâm trạng cô đơn, buồn tủi của Kiều được miêu tả như thế nào qua 6 câu thơ đầu đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích?

Hướng dẫn giải:

- “Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân / Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung” Với nghệ thuật đối lập “non xa” – “trăng gần” và cách dùng từ Hán – Việt “khóa xuân”, tác giả đã giới thiệu với người đọc về lầu Ngưng Bích là nơi khóa kín tuổi xuân, giam lỏng cuộc đời Kiều. Đã biết bao đêm, nàng cô đơn, thao thức nơi ngôi lầu ấy. Ở trên lầu cao nhìn ra xa, Kiều thấy dãy núi và mảnh trăng như ở cùng trong một bức tranh.

Vì nơi đây nằm trơ trọi giữa không gian mênh mông và xung quanh hoang vắng: “Bốn bề bát ngát xa trông / Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia” Bằng cách sử dụng từ láy “bát ngát” kết hợp với phép đối “cồn nọ” – “dặm kia” đã mở rộng không gian ra nhiều phía, tô đậm thân phận cô đơn của Kiều. Nhìn ra bốn vể không một bóng người, Kiều chỉ thấy những cồn cát vàng trải dài và trên những dặm đường xa, gió cuốn bụi hồng bay lên.

Cảnh nơi lầu Ngưng Bích thật đẹp, thật thơ mộng nhưng cũng thật buồn và tâm trạng cô đơn, đáng thương của Kiều càng được thể hiện rõ: “Bẽ bàng mây sớm đèn khuya / Nửa tình nửa cảnh như chia tấm lòng” Tác giả đã sử dụng cụm từ “mây sớm đèn khuya” gợi tả thời gian tuần hoàn khép kín, hết sớm rồi lại khuya, hết ngày rồi lại đêm, cứ thế trôi đi. Kiều giờ đây chỉ còn đơn độc một thân một mình nơi đất khách quê người. nàng chỉ còn biết làm bạn với áng mây buổi sớm và ngọn đèn canh khuya. Khi đối diện với mây với đèn, Kiều càng thấm thía cái bẽ bang của thân phận. Cảnh ấy, tình ấy đã làm cho lòng Kiều tan nát.


Câu 3 (1 điểm):

Nỗi nhớ thương Kim Trọng, cha mẹ và tấm lòng thủy chung, hiếu thảo, trong sáng của nàng Kiều được thể hiện như thế nào qua đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích?

Hướng dẫn giải:

Trước hết, tác giả cho người đọc thấy được nỗi nhớ của Kiều về Kim Trọng:

   “Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ”

- Ở hai câu thơ trên, tác giả đã sử dụng những từ ngữ, hình ảnh chọn lọc. Tác giả đã sử dụng động từ “tưởng” để diễn tả nỗi nhớ của Kiều về mối tình đầu trong sáng. Kiều đã hồi tưởng về những kỉ niệm đẹp với Kim Trọng. Đó là một đêm trăng ngời ngời ánh sáng, nàng đã thề nguyền, đính ước cùng Kim Trọng và chén rượu thề hôm nào như hiện về trong kí ức của nàng. Nàng hình dung ra ở Liêu Dương, Kim Trọng đang hướng về nàng, ngày đêm mong tin ngóng bóng. Đây là tiếng nói từ trong sâu thẳm trái tim Kiều. Lời thơ ít nhưng ý thơ nhiều. Trong lời thơ ấy đã thể hiện được tình cảm trong sáng mà Kiều dành cho Kim Trọng.  

- Càng nhớ đến kỉ niệm, càng nhớ về người yêu, Kiều càng thấm thía nỗi cô đơn của mình và càng thêm nuối tiếc về mối tình đầu trong sáng:

       “Bên trời góc bể bơ vơ

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai”

- Với việc sử dụng từ láy “bơ vơ”, tác giả cho người đọc thấy được tâm trạng cô đơn của Kiều khi sống ở lầu Ngưng Bích. Câu thơ giống như tiếng nói của nàng tự nhủ thầm với lòng mình. Kiều đau đớn trong hoàn cảnh sống “bơ vơ” nơi đất khách quê người. Nàng đau đớn khi tấm lòng son của mình đã bị dập vùi hoen ố không biết bao giờ mới có thể gột rửa cho sạch. Tuy nhiên câu thơ cũng có thể hiểu theo một cách khác. Đó là tấm lòng son sắt của Kiều đối với Kim Trọng không bao giờ phai nhòa, và tình yêu chung thủy của nàng không thể bị vùi lấp. 

- Đọc đến đây, người đọc sẽ thắc mắc tại sao Nguyễn Du lại để Kiều nhớ về Kim Trọng trước mà không phải cha mẹ? Ta dễ dàng nhận thấy sự tinh tế trong ngòi bút của đại thi hào. Ông đã khắc họa được tâm lí của nhân vật phù hợp với hoàn cảnh. Khi gia đình  gặp cơn tai biến, Kiều đã quyết bán mình chuộc cha và em trai, tức là Kiều đã đặt chữ “hiếu” lên trên chữ “tình”. Và giờ đây, khi gia đình đã ổn định, Kiều lại sống một thân một mình nơi xa, nên tác giả để Kiều nhớ về Kim Trọng trước là hợp lí. Đồng thời, từ sau khi bán mình theo Mã Giãm Sinh, nàng đã xa Kim Trọng một thời gian dài và giờ đây, Kiều đang bị ép làm gái lầu xanh nên luôn có suy nghĩ mặc cảm mình đã phụ chàng Kim. Vì vậy, tác giả đã để cho Kiều nhớ về Kim Trọng trước là hoàn toàn phù hợp với tâm lí nhân vật.

Tác giả còn để cho Kiều nhớ về cha mẹ

   “Xót người tựa cửa hôm mai

Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ”

   Bằng động từ “xót”, tác giả đã diễn tả nỗi đau đớn khổ tâm của Kiều, người con gái vốn giàu lòng vị tha, hiếu thảo nay phải xa cách cha mẹ. Nàng đã quên hẳn nỗi đau đớn, tủi cực của mình để được sống với cha mẹ trong tâm tưởng. Nàng hình dung ra nơi quê nhà, cha mẹ đang tựa cửa ngóng trông nàng trở về. Nàng đau khổ, day dứt, trăn trở vì không làm tròn bổn phận của đạo làm con. Tác giả sử dụng thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh” đẻ thể hiện tâm trạng lo lắng cho cha mẹ của Kiều. Nàng lo rằng, vào những ngày hè nóng nực, ai sẽ là người quạt cho cha mẹ ngủ? Còn những ngày đông giá lạnh, ai sẽ vào giường nằm trước để lấy hơi ấm cho cha mẹ nằm?     

- Kiều thật là một người con hiếu thảo

   “Sân Lai cách mấy nắng mưa

Có khi gốc tử đã vừa người ôm”

   Tác giả sử dụng điển tích “Sân Lai”, “gốc tử” để diễn tả tấm lòng hiếu thảo của Kiều với cha mẹ. Trong tâm trí của nàng, từ khi xa nhà đến nay, thời gian đã làm cho cảnh quê thay đổi. Cha mẹ lại càng ngày càng thêm già yếu, vậy mà nàng lại không thể ở bên cạnh chăm sóc, phụng dưỡng. Càng nghĩ, Kiều càng xót cho cha mẹ mình. Mặc dù trong cảnh ngộ hiện tại, Kiều là người đáng thương nhất, nhưng nàng không hề nghĩ tới mình mà chỉ nghĩ đến người thân. Điều đó đã làm nên phẩm chất cao quý tốt đẹp của nàng. Đó là tấm lòng vị tha, hiếu thảo với cha mẹ và sự thủy chung, nhân hậu với người yêu.


Câu 4 (1 điểm):

Tâm trạng buồn lo, tủi phận cho chính mình của nàng Kiều được thể hiện như thế nào qua đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích?

Hướng dẫn giải:

- Khép lại đoạn trích, tác giả thể hiện tâm trạng buồn lo của Kiều qua cái nhìn cảnh vật. Tám câu thơ cuối của bài là một minh chứng cho bút pháp nghệ thuật tả cảnh ngụ tình hay nhất trong “Truyện Kiều”. Đây còn là một bức tranh tứ bình, được tác giả sử dụng nghệ thuật ẩn dụ kết hợp với điệp ngữ “buồn trông” tạo một âm điệu trầm buồn. Tám câu cuối này đã vẽ ra bốn cảnh và mỗi cảnh đều nhuốm một màu tâm trạng:

 “Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa”  

- Bức tranh vẽ cảnh “cửa bể chiều hôm” thật rộng lớn, mênh mông, bát ngát. Trên nền của bức tranh ấy, Kiều nhận thấy ở phía ngoài khơi xa thấp thoáng hình ảnh “thuyền ai” lẻ loi, đơn chiếc đã gợi ra trong lòng Kiều một tâm trạng buồn, xa nhà, nhớ gia đình, nhớ quê hương da diết.

Kiều nhìn ra xa rồi lại nhìn lại gần trong một khoảng không gian hẹp. Kiều nhìn dòng nước đang chảy và cánh hoa trôi lững lờ để rồi Kiều lại lo cho thân phận của mình:

“Buồn trông ngọn nước mới sa

   Hoa trôi man mác biết là về đâu”

   Cảnh trong hai câu thơ trên là cảnh hoa trôi mặt nước. Kiều nhìn hoa mà không thấy đẹp, thấy tươi vì những bông hoa đó đã bị bứt ra khỏi cành, khỏi cây, khỏi sự sống và giờ đây đang trôi nổi, phiêu dạt trên mặt nước. Nhìn hình ảnh ấy gợi lên trong lòng nàng nỗi lo sợ cho thân phận bất hạnh của bản thân, không biết sẽ trôi dạt về đâu trên dòng đời vô định. Cũng giống như hoa, cuộc sống của Kiều giờ đây đã bị cắt đức khỏi mối liên hệ với gia đình, quê hương. Kiều không biết phải làm gì, đành phó mặc tất cả cho số phận. Kiếp người tựa kiếp hoa, tránh sao được dập vùi tan nát.

- Kiều nhìn ra xa rồi lại nhìn gần, nhìn ra bốn phía xung quanh nơi lầu Ngưng Bích với một cái nhìn bao quát hơn:

       “Buồn trông nội cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh”

   Tác giả đã sử dụng từ láy “rầu rầu”, “xanh xanh” để miêu tả cảnh trong hai câu thơ này. Từ “rầu rầu” vốn là một từ gợi tả tâm trạng của con người. Nhưng ở đây tác giả lại dùng để miêu tả màu sắc. Đó là sắc cỏ tàn tạ, héo úa được trải dài trong một khoảng không gian vô tận nối liền từ “mặt đất” tới “chân mây”. Sống trong không gian héo tàn ấy khiến Kiều lo lắng, liên tưởng đến cuộc đời mình rồi cũng héo mòn, tàn tạ ở nơi đây. Kiều buốn chán, tủi thân về cuộc sống lạnh lung, vô định của mình

- Ở cảnh cuối cùng của đoạn trích, thiên nhiên nổi lên thật dữ dội, như đang bủa vây lấy Kiều:

     “Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”

   Việc sử dụng từ láy “ầm ầm” đã diễn tả cảnh sóng gió giông bão. Không còn là gió thổi, gió lướt mà là “gió cuốn mặt duềnh” thật hung bạo, dữ dằn. Cũng không còn là sóng xô, sóng vỗ mà là sóng kêu “ầm ầm” dữ dội. Âm thanh tiếng sóng như đe dọa, thét gào, đang dồn đuổi, bủa vây lấy Kiều. Nhìn khung cảnh đó, Kiều vô cùng kinh sợ, hãi hùng. Kiều lo cho số phận của mình không biết sẽ bị xô đẩy về đâu, tương lai của mình rồi sẽ ra sao? Qua đó, người đọc cảm nhận được tài năng tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du

=> Như vậy, ở tám câu thơ cuối của đoạn trích, có thể khẳng định đó là một bức tranh tứ bình đầy ấn tượng với cách biểu hiện “tình trong cảnh ấy và cảnh trog tình này” , đồng thời thể hiện được tâm trạng “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”. Thành công nổi bật của Nguyễn Du trong tám câu thơ này là bút pháp tả cảnh ngụ tình thật rõ nét. Mỗi cảnh là một ý tăng dần theo suy nghĩ và mặc cảm của Kiều. Tác giả đã sử dụng bút pháp miêu tả tinh tế từ xa đến gần, từ cao xuống thấp, màu sắc từ nhạt đến đậm, âm thanh từ tĩnh đến động, tâm trạng từ buồn man mác đến lo âu, kinh sợ hãi hùng. Với lối miêu tả ấy, Nguyễn Du được mệnh danh là bậc thầy ngôn ngữ.     


Câu 5 (1 điểm):

Có ý kiến cho rằng: “Đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích là một bức tranh tâm tình đầy xúc động”. Anh/chị hãy làm sáng tỏ (chứng minh) nhận định trên.

Hướng dẫn giải:

I. Mở bài (hay mở đoạn) cần làm được những ý sau:

     + Giới thiệu tác giả Nguyễn Du, tác phẩm “Truyện Kiều”, đoạn trích “Kiều ở lầu Ngưng Bích”

     + Giới thiệu nhận định (trích dẫn trực tiếp, đầy đủ nhận định trong “….”)

          II. Thân bài (đoạn)

+ Đánh giá, khẳng định, giải thích nhận định: Thật vậy, lời nhận định trên là hoàn toàn chính xác. Lời nhận định khẳng định đoạn trích là một bức tranh tâm tình đầy xúc động. Điều đó có nghĩa là tác giả đã rất thành công trong việc xây dựng giá trị nghệ thuật và nội dung của đoạn trích. Nói tới bức tranh tâm tình là nói tới những tâm tư tình cảm của Kiều. Đặc biệt ở đây là tâm trạng buồn tủi, cô đơn, lo lắng cho số phận của mình và nỗi nhớ về những người thân yêu của nàng thật xúc động.

+ Phân tích đoạn trích theo các nội dung (tùy dung lượng hay yêu cầu của đề mà phân tích)

- 6 câu đầu: Khung cảnh thiên nhiên lầu Ngưng Bích và tâm trạng cô đơn, buồn tủi của Kiều     

- 8 câu tiếp: Nỗi nhớ thương của Kiều về người thân.           

 - 8 câu cuối: Tâm trạng đau buồn, lo âu của Kiều qua cách nhìn cảnh vật.

         III. Kết bài: Khẳng định lại nhận định và giá trị đoạn trích, tài năng Nguyễn Du.


Câu 6 (1 điểm):

Tại sao Thúy Kiều nhớ Kim Trọng trước, nhớ cha mẹ sau? Điều đó có đi trái ngược với lễ giáo phong kiến xưa không? Tại sao?

Hướng dẫn giải:

Nguyễn Du đã để Kiều nhớ Kim Trọng trước, nhớ cha mẹ sau vì:

- Điều này không phù hợp với trật tự lễ giáo phong kiến nhưng lại rất hợp logic tâm trạng (Đối với cha mẹ, trong cơn gia biến, Kiều đã quyết định chọn bên hiếu, bán mình chuộc cha. Còn đối với Kim Trọng, Kiều vẫn tự xem mình là kẻ phụ bạc. Cho nên trong nỗi nhớ người thân, nàng dành nỗi nhớ đầu tiên cho Kim Trọng).

- Sự đảo lộn trật tự đó cho thấy sự cảm thông sâu sắc của tấm lòng thấu suốt nghìn đời, sự tinh tế của ngòi bút tâm lý bậc thầy Nguyễn Du.


Câu 7 (1 điểm):

Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu dưới đây:

Tưởng người dưới nguyệt chén đồng

Tin sương luống những rày trông mai chờ

Bên trời góc bể bơ vơ

Tấm son gột rửa bao giờ cho phai

(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du, SGK Ngữ Văn lớp 9, tập một)

a, Đoạn trích trên viết về tâm trạng nhân vật nào? Nhân vật ấy đang ở trong hoàn cảnh như thế nào?

b, Từ “người” trong dòng thơ thứ nhất thuộc từ loại gì? Xác định đối tượng được nói đến của từ “người” trong mỗi dòng thơ.

c, Nhận xét về nghệ thuật sử dụng từ “tưởng” để miêu tả tâm trạng nhân vật.

Hướng dẫn giải:

a.     Đoạn trích trên viết về tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều.

      Hoàn cảnh của nhân vật: Sau khi biết mình bị lừa bán vào lầu xanh, Kiều uất ức định tự vẫn. Tú Bà vờ hứa đợi nàng bình phục sẽ gả chồng cho nàng vào nơi tử tế rồi đưa nàng ra giam lỏng ở lầu Ngưng Bích, đợi thực hiện âm mưu mới. Ở đây, Kiều rất đau khổ, xót xa cho thân phận mình và nhớ thương cha mẹ, người yêu.

b.    Từ “người” ở dòng thơ thứ nhất thuộc từ loại danh từ.

- “Người”: chỉ Kim Trọng

c. Nguyễn Du không dùng chữ “nhớ” mà dùng chữ “tưởng”. 

- “Tưởng” vừa là nhớ, vừa là hình dung, tưởng tượng ra người mình yêu. Thúy Kiều như tưởng tượng thấy, ở nơi xa kia, người yêu cũng đang hướng về mình, đang ngày đêm đau đáu chờ tin nàng: “Tin sương luống những rày trông mai chờ”.

- Từ này bộc lộ chính xác nỗi nhớ Kim Trọng của Kiều. Nỗi nhớ của một tình yêu đắm say trong sáng gắn với những kỉ niệm ngọt ngào. 


Câu 8 (1 điểm):

Cho đoạn thơ sau:

"Buồn trông cửa bể chiều hôm,

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?

Buồn trông ngọn nước mới sa,

Hoa trôi man mác biết là về đâu?

Buồn trông nội cỏ rầu rầu,

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh.

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi."

(Nguyễn Du, trích "Kiều ở lầu Ngưng Bích" - SGK Ngữ văn, tập I - NXBGD 2008, tr. 94)

a.     Nêu khái quát nội dung của tám câu thơ trên

b.    Để diễn tả thành công nội dung đó, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp nghệ thuật đặc sắc gì của văn học trung đại

c.    Phân tích những câu thơ trên.

Hướng dẫn giải:

a. - Nội dung của tám câu thơ:  Diễn tả tâm trạng buồn lo của Thuý Kiều khi ở lầu Ngưng Bích trước thực tại phũ phàng của số phận.

b.- Bút pháp nghệ thuật đặc sắc trong tám câu thơ là bút pháp tả cảnh ngụ tình.

c. Phân tích: Tâm trạng buồn lo của Thuý Kiều khi ở lầu Ngưng Bích

- Điệp từ “buồn trông” khởi đầu cho 4 cặp lục bát đã tái hiện nỗi buồn triền miên man bao trùm tâm hồn nhân vật, thấm sâu vào cảnh vật.

-  Đó là nỗi buồn cho thân phận lênh đênh, nổi chìm giữa dòng đời của Thúy Kiều:

+ Tạo dựng sự tương phản:

Không gian cửa biển lúc triều dâng >< Cánh buồm thấp thoáng, nhạt nhòa; cánh hoa tàn lụi man mác trôi trên dòng nước.

-> Tô đậm cái nhỏ bé, bơ vơ của cánh buồm, bông hoa.

+ Hình ảnh ẩn dụ: “thuyền ai”, “hoa” -> ẩn dụ cho thân phận của Thúy Kiều đang trôi dạt giữa dòng đời.

+ Câu hỏi “về đâu” -> sự lạc lõng, mất phương hướng, không biết sẽ đi đâu về đâu của nàng.

+ Thời gian “chiều hôm” lại càng làm cho nỗi buồn thân phận thêm sâu sắc.

- Là cảm giác cô đơn, lẻ loi khi đối diện với không gian mặt đất quanh lầu Ngưng Bích.

+ Hình ảnh: “nội cỏ”, “chân mây”, “mặt đất” -> cái vô cùng, vô tận của đất trời.

+ Từ láy “rầu rầu”: nhân hóa nội cỏ, vẽ lên một vùng cỏ cây vẻ ủ rũ, héo tàn -> gợi sự tàn úa, u buồn của lòng người.

+ Từ láy “xanh xanh”: gợi sắc xanh nhạt nhòa của nội cỏ, mặt đất chân mây; sắc xanh như che phủ, chia cắt tất cả.

=> Từ ngữ, hình ảnh cho thấy dẫu có kiếm tìm nhưng dường như trong vũ trụ bao la này Thúy Kiều không thể tìm được một dấu hiệu thân quen nào, một hơi ấm nào.

=> Đối diện với một không gian như vậy Thúy Kiều càng thấm thía hơn bao giờ hết sự nhỏ nhoi, đơn độc của mình.

- Nỗi trơ trọi, hãi hùng:

+ Thiên nhiên dữ dội và đầy biến động: gió giận dữ cuốn mặt duềnh, sóng ầm ầm vỗ ào ạt khi thủy triều lên.

+ Thậm chí, Kiều cảm giác những đợt sóng dữ dội kia đang bủa vây, kêu réo ngay bên mình.

+ Thiên nhiên là ẩn dụ cho dự cảm về những biến cố kinh hoàng sắp sửa ập xuống cuộc đời nàng. Những con sóng của số phận đang bủa vây, đe dọa người con gái lẻ loi, đơn độc nơi đất khách này.

-> Linh cảm trước tương lai khiến Thúy Kiều càng lo sợ, hãi hùng.

= > 8 câu cuối cảnh được miêu tả theo trình tự: xa -> gần, màu sắc: nhạt -> đậm, âm thanh: tĩnh -> động.

Tổng kết:

- Nỗi buồn đau, lo âu, kinh sợ chồng chất trong lòng Thúy Kiều.

- Sự mong manh, lẻ loi, trôi dạt, bế tắc trong thân phận nàng.

- Sự tuyệt vọng, yếu đuối nhất.


Câu 9 (1 điểm):

Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du (đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích) có sử dụng hai thành ngữ “bên trời góc bể” và “quạt nồng ấp lạnh”.

Hãy chép lại hai câu thơ đó và giải thích nghĩa của hai thành ngữ trong câu thơ.

Hướng dẫn giải:

Chép hai câu thơ có thành ngữ là:

+ Bên trời góc bể bơ vơ

+Quạt nồng ấm lạnh những ai đó giờ

Giải thích:    

+ Bên trời góc bể: Chỉ sự long đong nay đây mai đó, khi bên trời, khi góc biển xa xôi, phiêu bạt.

+ Quạt nồng ấm lạnh: Mùa hè thì quạt cho cha mẹ ngủ, mùa đông thì nằm trước để ủ ấm chỗ cho cha mẹ trước.

Ý chung của thành ngữ: chỉ sự phụng dưỡng, chăm sóc, lòng hiếu thảo của con cái đối với cha mẹ (Kiều lo lắng không biết ai sẽ thay mình chăm sóc cha mẹ?).


Câu 10 (1 điểm):

Những cảm xúc và suy nghĩ của em về nhân vật Thúy Kiều qua văn bản Kiều ở lầu Ngưng Bích. (trích Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Hướng dẫn giải:

1. Mở bài: Giới thiệu vài nét về tác giả Nguyễn Du và nhân vật Thúy Kiều, xuất xứ nội dung đoạn trích.

2. Thân bài:

* Ở lầu Ngưng Bích, Kiều phải sống trong một hoàn cảnh éo le, cô đơn tội nghiệp

- Sau khi bị Mã Giám Sinh lừa gạt, bị Tú Bà ép tiếp khách làng chơi, Thúy Kiều đau đớn, tủi nhục tìm đến cái chết. Tú Bà sợ mất “cả vốn lẫn lời”, vội khuyên can, hứa hẹn gả nàng cho một người tử tế. Mụ đưa Kiều ra sống ở lầu Ngưng Bích, thực chất là giam lỏng nàng, tìm mưu thâm độc buộc nàng tiếp khách.

- Ở lầu Ngưng Bích, Kiều sống trơ trọi giữa không gian mênh mông hoang vắng, sớm làm bạn với trời mây, đêm làm bạn với ngọn đèn, thui thủi một mình một bóng “bốn bề… dặm kia…”. Nàng đã rơi vào hoàn cảnh cô đơn tuyệt đối.

* Nỗi nhớ người yêutấm lòng thủy chung, trong sáng của Kiều.

- Vượt lên trên những nỗi đau riêng, nàng nhớ đến Kim Trọng với nỗi nhớ thương day dứt.

- Kiều xót xa khi nghĩ giờ này chắc Kim Trọng vẫn đang mong chờ tin tức của nàng, đâu biết rằng nàng đang phải bán mình vào hang hùm miệng rắn, một mình bơ vơ nơi góc bể chân trời. Nàng nhớ về Kim Trọng với tâm trạng đau đớn xót xa.

- Gặp gia biến, Kiều phải bán mình chuộc cha rồi bị đọa đầy vào nơi sóng gió. Nhưng tận đáy lòng, nàng luôn tự giày vò mình đã không giữ được tình yêu chung thủy -> bằng chứng hùng hồn nhất cho tấm lòng thủy chung trong trắng của Kiều.

* Nỗi thương cha nhớ mẹtấm lòng hiếu thảo, nhân hậu.

- Bị đọa đầy cả về thể xác lẫn tinh thần nhưng trong lòng Kiều lúc nào cũng rưng rưng nỗi thương cha nhớ mẹ: nàng thương cha mẹ khi sáng khi chiều tựa cửa ngóng tin con, trông mong sự đỡ đần. Nàng xót xa lúc cha mẹ tuổi già sức yếu mà nàng không được tự tay chăm sóc. Thành ngữ “quạt nồng ấp lạnh”, điển cố “sân Lai”, “gốc tử” đều nói lên tâm trạng nhớ thương, tấm lòng hiếu thảo của Kiều. Nàng tưởng tượng cảnh đổi thay nơi quê nhà, cha mẹ ngày một thêm yếu. Kiều nhớ đến cha mẹ và ân hận mình đã phụ công sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ.

-> Trong cảnh ngộ ở lầu Ngưng Bích, Kiều là người đáng thương nhất, nhưng nàng đã quên cảnh ngộ bản thân để nghĩ về Kim Trọng, nghĩ về cha mẹ. Kiều không chỉ là một cô gái có tình yêu chung thủy, tâm hồn trong sáng mà còn là một người con hiếu thảo, một con người có tấm lòng nhân hậu, vị tha đáng trọng.

* Nỗi tự thương mìnhdự cảm về tương lai bất hạnh

- Với ngòi bút hết sức tinh tế, Nguyễn Du diễn tả chính xác tâm trạng của Thúy Kiều: mỗi biểu hiện của cảnh chiều tà (cánh buồm thấp thoáng, hoa trôi man mác đến nội cỏ rầu rầu, tiếng sóng ầm ầm) đều thể hiện tâm trạng và cảnh ngộ của Kiều: sự cô đơn, thân phận lênh đênh vô định, nỗi buồn tha hương, lòng thương nhớ người yêu, cha mẹ và cả sự bàng hoàng lo sợ… Tất cả khung cảnh ấy như báo trước dông bão của số phận sẽ xô đẩy, vùi dập cuộc đời Kiều.

* Đặc sắc nghệ thuật

- Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình.

- Điệp ngữ “buồn trông” tạo âm hưởng trầm buồn đã trở thành điệp khúc của đoạn thơ cuối và cũng là điệp khúc của tâm trạng.

* Liên hệ mở rộng.

- Những cảm xúc và suy nghĩ riêng của em về nhân vật Thúy Kiều qua các đoạn trích đã học hoặc cảm nghĩ chung về số phận và phẩm chất của những người phụ nữ xưa và nay. Như số phận bất hạnh của Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, số phận làm lẽ của người phụ nữ trong Tự tình, Làm lẽ  hay số phận ba chìm bảy nổi của người phụ nữ trong Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương,…

3. Kết bài:

- Khẳng định những nét phẩm chất đáng quý của Thúy Kiều: nhân hậu, vị tha, hiếu thảo cùng đức hy sinh cao thượng vì tình yêu, vì những người thân thiết…

- Sức sống của nhân vật trong lòng người đọc cũng như giá trị của tác phẩm Truyện Kiều.


Câu 11 (1 điểm):

1. Thế nào là nghệ thuật tả cảnh ngụ tình?

2. Trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích (Ngữ văn 9, tập một) có những câu thơ đã trở thành tuyệt bút nhờ thủ pháp nghệ thuật này. Em hãy chép chính xác những câu thơ ấy.

3. Viết một đoạn văn (khoảng 12 câu) theo cách lập luận tổng – phân – hợp để làm nổi bật nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của thi hào Nguyễn Du trong đoạn thơ em vừa chép ở câu 2.

Hướng dẫn giải:

1. Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình là mượn cảnh vật để gửi gắm (ngụ) tâm trạng. Cảnh không đơn thuần là bức tranh thiên nhiên mà còn là bức tranh tâm trạng. Cảnh chỉ là phương tiện, còn mục đích chủ yếu là miêu tả, biểu đạt tâm trạng.

2. Chép thuộc những câu thơ tả cảnh ngụ tình đặc sắc trong đoạn Kiều ở lầu Ngưng Bích (tám câu cuối).

“Buồn trông cửa bể chiều hôm

Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa

Buồn trông ngọn nước mới xa

Hoa trôi man mác biết là về đâu

Buồn trông nội cỏ rầu rầu

Chân mây mặt đất một màu xanh xanh

Buồn trông gió cuốn mặt duềnh

Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”.

3. Viết đoạn văn

Yêu cầu:

- Về hình thức: đoạn văn khoảng 12 câu, theo cách lập luận tổng – phân – hợp.

- Về nội dung: Phân tích để làm rõ nghệ thuật tả cảnh ngụ tình đặc sắc của tác giả. Cần tập trung vào các ý chính:

+ Tám câu thơ là ngoại cảnh mà cũng là tâm cảnh. Mỗi cảnh khơi gợi một nỗi buồn và nỗi buồn tác động lại cảnh khiến cảnh mỗi lúc một buồn hơn và nỗi buồn ngày một mãnh liệt hơn. Mỗi cặp lục bát là một cảnh, tám câu thơ tạo thành bộ tứ bình cảnh sắc – tâm trạng độc đáo.

+ Lần lượt phân tích từng cảnh:

Cảnh chiều tà bên bờ biển với cánh buồm thấp thoáng gợi nỗi cô đơn, nỗi nhớ nhà trong cảnh tha hương. Cánh “hoa trôi man mác” gợi nỗi xót xa cho duyên phận, số phận nổi nênh, vô định. “Nội cỏ rầu rầu” gợi nỗi buồn chán, vô vọng. Tiếng sóng ầm ầm gợi nỗi bàng hoàng, lo sợ trước những tai ương đang dồn dập truy đuổi và như sắp dội xuống đời Kiều.

+ Điệp ngữ “buồn trông” liên kết bốn cảnh tạo âm hưởng trầm buồn, trở thành điệp khúc của tâm trạng, của khúc ca buồn thảm trong lòng Kiều.

Link bài học:
Thảo luận
1

Chuyện người con gái Nam Xương - Nguyễn Dữ

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Bài tập tự luận

2

Hoàng Lê nhất thống chí - Ngô gia văn phái

 1. Bài tập trắc nghiệm

 2. Bài tập tự luận

3

Chị em Thúy Kiều - Nguyễn Du

 1. Bài tập trắc nghiệm

 2. Bài tập tự luận

4

Cảnh ngày xuân - Nguyễn Du

 1. Bài tập trắc nghiệm

 2. Bài tập tự luận

5

Kiều ở lầu Ngưng Bích - Nguyễn Du

 1. Bài tập trắc nghiệm

 2. Bài tập tự luận

6

Đồng chí - Chính Hữu

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Hệ thống đề luyện

7

Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Hệ thống đề luyện

8

Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận

 1. Video bài giảng

 2. Hệ thống đề luyện

 3. Bài tập trắc nghiệm

 4. Bài tập tự luận

9

Bếp lửa - Bằng Việt

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Bài tập tự luận

10

Ánh trăng - Nguyễn Duy

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Hệ thống đề luyện

11

Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải

 1. Video bài giảng

 2. Hệ thống đề luyện

 3. Bài tập trắc nghiệm

12

Sang thu - Hữu Thỉnh

 1. Video bài giảng

 2. Hệ thống đề luyện

 3. Bài tập trắc nghiệm

13

Viếng lăng Bác - Viễn Phương

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Bài tập tự luận

14

Nói với con - Y Phương

 1. Video bài giảng

 2. Hệ thống đề luyện

 3. Bài tập trắc nghiệm

15

Lặng lẽ Sa Pa - Nguyễn Thành Long

 1. Video bài giảng

 2. Hệ thống đề luyện

 3. Bài tập trắc nghiệm

16

Làng - Kim Lân

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Bài tập tự luận

17

Những ngôi sao xa xôi - Lê Minh Khuê

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Bài tập tự luận

18

Chiếc lược ngà - Nguyễn Quang Sáng

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

19

Bến quê - Nguyễn Minh Châu

 1. Bài tập trắc nghiệm

 2. Bài tập tự luận

20

Văn bản nhật dụng

 1. Phong cách Hồ Chí Minh - Lê Anh Trà

 2. Phong cách Hồ Chí Minh

 3. Bàn về đọc sách - Chu Quang Tiềm

 4. Bàn về đọc sách

 5. Tiếng nói của văn nghệ - Nguyễn Đình Thi

 6. Tiếng nói của văn nghệ

 7. Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới - Vũ Khoan

 8. Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới