Câu 1 (1 điểm):

Em hãy trình bày những nét chính về tác phẩm Truyện Kiều?

(về các tên gọi, thể loại, số câu thơ, nguồn gốc, các phần)

Hướng dẫn giải:

- Tên gọi: “Đoạn trường tân thanh” có nghĩa là “Tiếng kêu mới dứt ruột”, “Tiếng kêu mới xé lòng”. Nhưng nhân dân ta quen gọi là “Truyện Kiều”

- Đây là tác phẩm tiêu biểu được viết bằng chữ Nôm.

- Tác phẩm gồm 3254 câu thơ lục bát.

- Nguyễn Du sáng tác dựa trên cốt truyện “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân ở Trung Quốc

- “Truyện Kiều” gồm 3 phần:

   + Phần 1: Gặp gỡ và đính ước

   + Phần 2: Gia biến và lưu lạc

   + Phần 3: Đoàn tụ


Câu 2 (1 điểm):

Vì sao Nguyễn Du đặt tên cho tác phẩm của mình là “Đoạn trường tân thanh” nhưng nhân dân ta lại quen gọi là “Truyện Kiều”?

Hướng dẫn giải:

Nguyễn Du đặt tên cho tác phẩm của mình là “Đoạn trường tân thanh” nhưng nhân dân ta quen gọi là “Truyện Kiều” vì:

- Toàn bộ tác phẩm xoay quanh cuộc đời và số phận của nàng Kiều, nàng là nhân vật chính, là nhân vật trung tâm của truyện. Lấy tên nhân vật chính làm nhan đề cho tác phẩm cũng là điều dễ thấy.

- Bên cạnh đó, thân phận của nàng Kiều cũng giống như thân phận của biết bao phụ nữ trong xã hội phong kiến phải chịu nỗi bất hạnh, vì vậy mà nàng Kiều hiện lên thật gần gũi, người đọc cảm thông với những nỗi bất hạnh của Kiều và yêu mến những phầm chất tót đẹp của nàng. Vì vậy, gọi tên “Truyện Kiều” cũng là cách để thể hiện tình cảm của nhân dân ta với Thúy Kiều.

- Tên gọi “Truyện Kiều” dễ nhớ, dễ đọc, gần gũi với người đọc.


Câu 3 (1 điểm):

Đoạn trích Chị em Thúy Kiều thuộc phần mấy của tác phẩm? Được viết theo thể loại loại? Nội dung chính của đoạn?

Hướng dẫn giải:

   + Đoạn trích nằm ở phần đầu “Gặp gỡ và đính ước” của tác phẩm “Truyện Kiều”, giới thiệu về gia cảnh nhà Vương viên ngoại.

   + Tác giả đã sử dụng thể thơ lục bát kết hợp ngôn ngữ chọn lọc, giàu hình ảnh, mang tính biểu cảm cao.

   + Đoạn trích cho người đọc thấy được vẻ đẹp của chị em Thúy Vân, Thúy Kiều.


Câu 4 (1 điểm):

Xác định bố cục 4 phần của đoạn trích Chị em Thúy Kiều?

Hướng dẫn giải:

- 4 câu đầu: Giới thiệu chung về chị em Thúy Kiều

 - 4 câu tiếp: Vẻ đẹp của Thúy Vân

 - 12 câu sau: Vẻ đẹp và tài năng của Thúy Kiều

 - 4 câu cuối: Cuộc sống và phẩm hạnh của chị em Thúy Kiều

   + 4 câu đầu: Giới thiệu chung về chị em Thúy Kiều


Câu 5 (1 điểm):

Phân tích 4 câu thơ đầu của đoạn trích Chị em Thúy Kiều?

Hướng dẫn giải:

a. Tác giả giới thiệu về hai chị em:

        “Đầu lòng hai ả tố nga

Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân”

      Với việc sử dụng từ Hán Việt “tố nga”, tác giả đã giới thiệu một cách trang trọng về Thúy Kiều và Thúy Vân. Họ là hai người con gái đẹp, trong đó, Thúy Kiều là cô chị, Thúy Vân là cô em. Cả hai chị em đều là những người có cốt cách duyên dáng, thanh tao.

b. Hai câu tiếp:                           

     “Mai cốt cách, tuyết tinh thần

 Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”

       Bằng bút pháp ước lệ kết hợp với hình ảnh ẩn dụ, tác giả đã ngầm so sánh cốt cách của hai chị em Thúy Kiều thanh tao, mảnh dẻ như cây mai, tinh thần trong trắng như tuyết. Tác giả lấy vẻ đẹp của thiên nhiên để miêu tả vẻ đẹp của con người. Đó cũng là bút pháp ước lệ của văn học trung đại. Thúy Kiều và Thúy Vân đều có những nét đẹp riêng và khi kết hợp lại đã tạo nên một vẻ đẹp “mười phân vẹn mười”.


Câu 6 (1 điểm):

Trong đoạn trích Chị em Thúy Kiều, vẻ đẹp của Thúy Vân được hiện lên qua những câu thơ nào? Vẻ đẹp đó được Nguyễn Du khắc họa như thế nào?

Hướng dẫn giải:

- Tác giả miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân một cách cụ thể, rõ nét, làm hiện lên trước mắt người đọc vẻ đẹp trẻ trung, tươi tắn của một cô gái đang độ trăng tròn.

    “Vân xem trang trọng khác vời

Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang

    Hoa cười ngọc thốt đoan trang

Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”.

- Tác giả đã sử dụng bút pháp ước lệ để giới thiệu về vẻ đẹp của Thúy Vân. Cụm từ “trang trọng khác vời” lột tả vẻ đẹp cao sang, quý phái.

Khi miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân, tác giả kết hợp thủ pháp liệt kê với ước lệ và các phép tiểu đối. Trong thiên nhiên có bao nhiêu cái đẹp, Nguyễn Du đều chọn để so sánh với Thúy Vân. Tác giả đã lấy vẻ đẹp của trăng, hoa, mây để so sánh với vẻ đẹp của nàng. Thúy Vân hiện lên với khuôn mặt tròn, đầy đặn, phúc hậu, dịu hiền như mặt trăng đêm Rằm. Đôi lông mày sắc nét, thanh tú như “nét ngài”, miệng nàng cười tươi tắn như hoa. Giọng nói trong, lời nói đẹp như “nhả ngọc phun châu”. Mái tóc nàng óng ả, đen tuyền, mềm mượt hơn mây cùng làn da trắng, mịn màng hơn tuyết.

Vẻ đẹp của Thúy Vân là vẻ đẹp đoan trang, phúc hậu. Vẻ đẹp đó khiến thiên nhiên phải “thua”, phải “nhường”. Điều đó đã ngầm dự báo trước về một tương lai, số phận yên bình, êm đềm, hạnh phúc.


Câu 7 (1 điểm):

Tại sao Nguyễn Du lại miêu tả vẻ đẹp của Vân trước rồi mới miêu tả vẻ đẹp của Kiều sau? Thủ pháp nghệ thuật nào đã được sử dụng khi miêu tả vẻ đẹp của Kiều. Em hãy phân tích vẻ đẹp của Kiều qua 12 câu thơ trong đoạn trích Chị em Thúy Kiều?

Hướng dẫn giải:

12 câu sau: Nguyễn Du đã miêu tả vẻ đẹp và tài năng của Thúy Kiều bằng thủ pháp đòn bẩy, nghệ thuật ước lệ, liệt kê, dự báo về số phận tương lai của nhân vật thông qua những chi tiết miêu tả.

Sau khi miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân, tác giả miêu tả vẻ đẹp nhan sắc và tài năng của Thúy Kiều. Mặc dù Kiều là chị nhưng lại được miêu tả sau. Đây chính là dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Du, sử dụng thủ pháp đòn bẩy, miêu tả cô em trước để làm nền cho Thúy Kiều nổi bật.

-                              “Kiều càng sắc sảo mặn mà

                                  So bề tài sắc lại là phần hơn”

Với việc sử dụng từ láy “sắc sảo”, “mặn mà” có tính chất gợi tả để nhấn mạnh Kiều sắc sảo về mặt trí tuệ và mặn mà trong tình cảm. So với Vân, Kiều đẹp hơn và có tài hơn rất nhiều.

Khi miêu tả vẻ đẹp của Thúy Kiều, tác giả không liệt kê nhiều chi tiết như khi miêu tả Thúy Vân mà chỉ tập trung vào đôi mắt, bởi đôi mắt là cửa sổ tâm hồn.

                                  “Làn thu thủy, nét xuân sơn

                         Hoa hen thua thắm, liễu hờn kém xanh

Bút pháp ước lệ cùng nghệ thuật ẩn dụ, nhân hóa đã họa nên đôi mắt của Thúy Kiều long lanh như làn nước mua thu. Đôi mắt ấy ẩn dưới đôi lông mày đẹp, sắc nét nhưng thanh thoát như dáng núi mùa xuân. Vẻ đẹp của Kiều khiến cho “hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”, một vẻ đẹp khiến cho các vẻ đẹp khác phải ganh ghét, đố kị. Và điều này cũng dự báo trước một tương lai không mấy tốt đẹp, nhiều đau khổ của Kiều, vì “hồng nhan bạc phận”.

Miêu tả Thúy Kiều, Nguyễn Du không chỉ miêu tả nhan sắc mà còn tập trung vào tài năng của nàng: 

                   “Một hai nghiêng nước nghiêng thành

                     Sắc đành đòi một, tài đành họa hai

- Tác giả đã sử dụng thành ngữ kết hợp với điển tích, lấy ý của câu “nghiêng nước nghiêng thành” để nói sắc đẹp của Thúy Kiều làm người ta say mê đến đổ thành, mất nước. Nhan sắc ấy chỉ mình Kiều có được, còn tài năng thì họa chăng trong thiên hạ có đến người thứ hai. Cũng chính vì vậy, tác giả sử dụng đến sáu câu thơ liền để miêu tả tài năng của Kiều:

        “Thông minh vốn sẵn tính trời

       Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm

         Cung thương làu bậc ngũ âm

   Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương

        Khúc nhà tay lựa nên chương

   Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân” 

- Ở những câu thơ trên, tác giả đã sử dụng bút pháp liệt kê để ca ngợi tài năng của Kiều, nàng đa tài, thông thuộc từ cầm, kì đến thi, họa…. Kiều biết chơi cờ, đánh đàn, làm thơ, vẽ tranh… Tài năng nào của nàng cũng đạt đến mức tuyệt đỉnh và do thiên bẩm. Tác giả sử dụng một loạt các từ “vốn sẵn”, “đủ mùi”, “làu bậc”, “ăn đứt” để khẳng định các tài năng của Kiều đều đạt tới đỉnh cao. Đặc biệt, Kiều rất giỏi về nhạc, thuộc lòng các cung bậc, nắm vững năm nốt cung, thương, dốc, chủy, vũ của âm giai nhạc cổ. Kiều thường chơi đàn tì bài, ngoài tài đàn, nàng còn giỏi về sáng tác. Nàng đã soạn riêng cho mình khúc nhạc có tên “Bạc mệnh” và mỗi khi Kiều gảy khúc nhạc ấy, ai nghe thấy cũng sầu não, chau mày, rơi lệ. Điều đó thể hiện Kiều là người có trái tim đa sầu, đa cảm. Tài năng của Kiều cũng dự báo trước một tương lai nàng sẽ gặp phải nhiều sóng gió, bất hạnh bởi “chữ tài liền với chữ tai một vần”. Như vậy, vẻ đẹp của Thúy Kiều là sự tổng hòa của sắc, tài, tình.


Câu 8 (1 điểm):

Cuộc sống và phẩm hạnh của hai chị em Thúy Vân, Thúy Kiều ở cuối đoạn trích Chị em Thúy Kiều được Nguyễn Du miêu tả như thế nào?

Hướng dẫn giải:

“Phong lưu rất mực hồng quần

Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê

       Êm đềm trướng rủ màn che

Tường đông ong bướm đi về mặc ai

Ở bốn câu thơ cuối của đoạn trích, tác giả sử dụng từ ngữ rất độc đáo, đầy tính gợi tả, đặc biệt trong câu “Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê”. Nguyễn Du sử dụng bốn phụ âm “x” đi liền nhau “xuân xanh xấp xỉ”, sau đó là hai phụ âm “t”, cuối câu là phụ âm “c – k” để nói hai chị em Kiều và Vân đã đến tuổi “búi tóc cài trâm” nhưng họ vẫn sống một cuộc sống nề nếp, gia giáo, mẫu mực, đức hạnh của các tiểu thư chốn phòng khuê. Họ sống cuộc sống “êm đềm”, vô lo vô nghĩ sau “trướng rủ màn che”, cách biệt với những cuộc vui chơi trác táng, những xô bồ, cạm bẫy ngoài kia. Việc sử dụng từ láy gợi hình “êm đềm” và cụm từ “mặc ai” khiến người đọc cảm nhận được sự bình yên, an toàn, được bao bọc, chở che của hai chị em, đặc biệt là Thúy Kiều bao nhiêu, thì sau này, những khổ cực mà nàng phải gánh chịu càng ê chề, đau đớn, xót xa bấy nhiêu.


Câu 9 (1 điểm):

1. Một đoạn trích trong sách Ngữ văn 9 – tập 1, có câu: “Làn thu thuỷ, nét xuân sơn”.
a. Hãy chép lại 9 câu thơ nối tiếp câu thơ trên.
b. Đoạn thơ em vừa chép có trong tác phẩm nào, do ai sáng tác? Kể tên nhân vật được nói đến trong đoạn thơ.
2.  
Từ “hờn” trong câu thứ hai của đoạn thơ trên bị một bạn chép nhầm thành từ “buồn”. Em hãy giải thích ngắn gọn cho bạn hiểu rằng chép sai như vậy đã làm ảnh hưởng lớn đến ý nghĩa câu thơ.

Hướng dẫn giải:

Câu 1:
a. Chép chính xác 9 câu thơ nối tiếp đã cho đúng bản in trong sách Ngữ văn 9 – tập 1 (không tính dấu câu).
“Làn thu thủy, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước nghiêng thành
Sắc đành đòi một, tài đành họa hai
Thông minh vốn sẵn tính trời
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm
Cung thương làu bậc ngũ âm
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương
Khúc nhà tay lựa nên chương
Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân"

b. Nêu đúng tên tác giả Nguyễn Du, tác phẩm Truyện Kiều, tên nhân vật trong đoạn thơ: Thuý Kiều.
Câu 2: 
Nói được ý: Từ “buồn” không diễn tả được nỗi uất ức, đố kỵ, tức giận như từ “hờn”; do đó chưa phù hợp với ý nghĩa dự báo số phận Kiều trong câu thơ của Nguyễn Du.


Câu 10 (1 điểm):

Hai câu sau, mỗi câu nói về nhân vật nào?
“Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”

“Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh”

Hai cách miêu tả sắc đẹp của hai nhân vật ấy có gì giống và khác nhau? Sự khác nhau ấy có liên quan gì đến tính cách và số phận của mỗi nhân vật?

Hướng dẫn giải:

​- Hai câu thơ trên, câu đầu nói về Thúy Vân, câu sau nói về Thuý Kiều.
- Giống nhau: Tả nhan sắc hai nàng như vậy là Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp ước lệ tượng trưng, một bút pháp quen thuộc của thơ ca cổ điển – dùng để tả nhân vật chính diện – lấy cái đẹp của tự nhiên để so sánh hoặc ngầm ví với cái đẹp của nhân vật. Từ đó tôn vinh cái đẹp của nhân vật. Ta dễ dàng hình dung nhan sắc của mỗi người. Thúy Vân tóc mượt mà, óng ả hơn mây, da trắng hơn tuyết. Còn Thuý Kiều, vẻ tươi thắm của nàng đến hoa cũng phải ghen, đến liễu phải hờn.
- Khác nhau:
Tả Thúy Vân Tả Thúy Kiều
Tác giả miêu tả Thúy Vân cụ thể từ khuôn mặt, nét mày, màu da, nước tóc, miệng cười, tiếng nói Þ để khắc họa một Thúy Vân đẹp, đoan trang, phúc hậu. Nêu ấn tượng tổng quát (sắc sảo, mặn mà), đặc tả đôi mắt. Miêu tả tác động vẻ đẹp của Thuý Kiều. Vẻ đẹp sắc sảo, thông minh của Thuý Kiều làm cho hoa, liễu phải hờn ghen, làm cho nước, thành phải nghiêng đổ Þ tác giả miêu tả nét đẹp của Kiều là để gợi tả vẻ đẹp tâm hồn Thúy Kiều.
Thông điệp nghệ thuật: Qua cái đẹp ấy, tác giả còn dự báo cho số phận của mỗi người. Thuý Vân đẹp đoan trang, phúc hậu, sẽ có một số phận may mắn, hạnh phúc. Còn Thuý Kiều đẹp sắc sảo, mặn mà sẽ có số phận đầy giông tố, bất hạnh.


Câu 11 (1 điểm):

Từ câu chủ đề sau: “Khác với Thúy Vân, Thuý Kiều có vẻ đẹp sắc sảo, mặn mà cả tài lẫn sắc”. Hãy viết tiếp khoảng 10 câu văn để hoàn thành một đoạn văn theo cách Tổng hợp – Phân tích - Tổng hợp.

Hướng dẫn giải:

Gợi ý
Dùng câu chủ đề trên làm câu mở đoạn.
Viết nối tiếp bằng những gợi ý sau:
- Gợi tả vẻ đẹp của Kiều, tác giả vẫn dùng những hình tượng nghệ thuật ước lệ “thu thuỷ” (nước mùa thu), “xuân sơn” (núi mùa xuân), hoa, liễu. Nét vẽ của thi nhân thiên về gợi, tạo một ấn tượng chung về vẻ đẹp của một giai nhân tuyệt thế.
- Vẻ đẹp ấy được gợi tả qua đôi mắt Kiều, bởi đôi mắt là sự thể hiện phần tinh anh của tâm hồn và trí tuệ. Đó là một đôi mắt biết nói và có sức rung cảm lòng người.
- Hình ảnh ước lệ “làn thu thuỷ” – làn nước mùa thu gợn sóng gợi lên thật sống động vẻ đẹp của đôi mắt trong sáng, long lanh, linh hoạt. Còn hình ảnh ước lệ “nét xuân sơn” – nét núi mùa xuân lại gợi lên đôi lông mày thanh tú trên gương mặt trẻ trung.
- “Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” – Vẻ đẹp quá hoàn mĩ và sắc sảo của Kiều có sức quyến rũ lạ lùng khiến thiên nhiên không thể dễ dàng chịu thua, chịu nhường mà phải nảy sinh lòng đố kỵ, ghen ghét ð báo hiệu lành ít, dữ nhiều.
- Không chỉ mang một vẻ đẹp “nghiêng nước, nghiêng thành”, Kiều còn là một cô gái thông minh và rất mực tài hoa:
“Thông minh vốn sẵn tính trời
Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm
Cung thương làu bậc ngũ âm
Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương”
- Tài của Kiều đạt tới mức lí tưởng theo quan niệm thẩm mỹ phong kiến, gồm đủ cả cầm (đàn), kỳ (cờ), thi (thơ), hoạ (vẽ). Đặc biệt nhất vẫn là tài đàn của nàng, đã là sở trường, năng khiếu (nghề riêng), vượt lên trên mọi người (ăn đứt).
- Đặc tả cái tài của Kiều cũng là để ngợi ca cái tâm đặc biệt của nàng: Cung đàn “bạc mệnh” mà Kiều tự sáng tác nghe thật da diết buồn thương, ghi lại tiếng lòng của một trái tim đa sầu, đa cảm.
- Vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp của cả sắc – tài – tình. Tác giả dùng thành ngữ “nghiêng nước, nghiêng thành” để cực tả giai nhân, đồng thời là lời ngợi ca nhân vật.
- Chân dung của Thuý Kiều cũng là chân dung mang tính cách số phận. Vẻ đẹp của Kiều làm cho tạo hoá phải ghen ghét, phải đố kị “hoa ghen, liễu hờn” nên số phận nàng sẽ éo le, đau khổ.
Như vậy, chỉ bằng mấy câu thơ trong đoạn trích, Nguyễn Du đã không chỉ miêu tả được nhân vật mà còn dự báo được trước số phận của nhân vật; không những truyền cho người đọc tình cảm yêu mến nhân vật mà còn truyền cả nỗi lo âu phấp phỏng về tương lai số phận nhân vật.


Câu 12 (1 điểm):

Trong đoạn trích “Chị em Thúy Kiều”, nhân vật Thúy Kiều đã được khắc họa với vẻ đẹp như thế nào? Anh chị có cảm nhận như thế nào về vẻ đẹp đó?

Hướng dẫn giải:

* Nguyễn Du đã miêu tả Thúy Vân qua 4 câu thơ với vẻ đẹp nổi bật về ngoại hình. Còn tác giả dành tới 12 câu thơ để miêu tả Kiều. Tác giả miêu tả vẻ đẹp của Vân trước rồi mới miêu tả Kiều, thủ pháp đòn bẩy nhằm làm nổi bật vẻ đẹp nàng Kiều.

* Vẻ đẹp của Thúy Kiều hiện lên qua 3 yếu tố: sắc. tài, tình

- Ngoại hình: đó là vẻ đẹp mặn mà đằm thắm, tràn đầy sức sống, đạt đến mức độ hoàn hảo, lý tưởng, khiến thiên nhiên cũng phải hờn ghen

- Trí tuệ, tài năng: Nàng thông minh, sắc sảo, tư chất hơn người, vẻ đẹp toàn diện cả cầm, kì, thi , họa. Nổi bật là tài đánh đàn.

- Tâm hồn: trong trắng, thanh cao và cũng rất tinh tế, đa sầu, đa cảm.

* Nhận xét:

- Nàng Kiều là người có vẻ đẹp lí tưởng vượt xa so với chuẩn mực thẩm mĩ thời trung đại.

- Vẻ đẹp này cũng dự báo về một cuộc đời bất hạnh, gặp nhiều sóng gió của nàng Kiều.


Câu 13 (1 điểm):

So sánh bức chân dung Thúy Vân và Thúy Kiều trong đoạn trích Chị em Thúy Kiều.

Theo anh (chị), bức chân dung nào ấn tượng hơn? Vì sao?

Hướng dẫn giải:

1.Giống nhau:

- Cả hai nhân vật đều mang vẻ đẹp lí tưởng theo quan điểm thẩm mĩ trung đại.

- Chân dung hai nhân vật đều miêu tả bằng nghệ thuật ước lệ, so sánh gắn với những hình ảnh thiên nhiên đẹp.

2.Khác nhau:

Thúy Vân

Thúy Kiều

- Được miêu tả trước, qua 4 câu thơ.

 =>Thực chất miêu tả Vân là nhằm làm nổi bật vẻ đẹp của Kiều.

-Vân được miêu tả cụ thể hơn qua nghệ thuật liệt kê -> Vẻ đẹp phúc hậu theo đúng chuẩn mực thẩm mỹ phong kiến.

-Chủ yếu qua ngoại hình, không nhắc đến tài năng.

=>Dự báo về cuộc đời êm đềm, bình lặng.

 

-Được miêu tả sau, qua 12 câu thơ.

=>Thủ pháp đòn bẩy làm nổi bật vẻ đẹp của nhân vật trung tâm.

-Miêu tả chủ yếu qua đôi mắt, đôi lông mày ->Vẻ đẹp sắc sảo vượt lên mọi chuẩn mực thông thường.

-Vừa miêu tả ngoại hình, vừa khẳng định tài năng và hé mở vẻ đẹp tâm hồn.

=>Dự báo về cuộc đời đầy trắc trở, sóng gió.


Câu 14 (1 điểm):

Em hãy đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:

          Làn thu thủy nét xuân sơn,

Hoa ghen thua thắm liễu hờn ghém xanh

          Một hai nghiêng nước nghiêng thành

Sắc đành đòi một tài đành họa hai

                                                (Nguyễn Du, Truyện Kiều)

1.  Đoạn thơ nói về nhân vật nào trong Truyện Kiều?

2.  Trong đoạn thơ có sử dụng một thành ngữ, em hãy chỉ ra và giải thích nghĩa của thành ngữ đó.

3.  Tác giả đã sử dụng những biện pháp tu từ nào trong đoạn trích? Hãy viết một đoạn văn ngắn (từ 5 đến 7 dòng) trình bày tác dụng của các biện pháp tu từ đó trong việc miêu tả vẻ đẹp của nhân vật được nói đến.

Hướng dẫn giải:

1. Đoạn thơ nói về nhân vật Thúy Kiều trong Truyện Kiều.     

2.Thành ngữ: Nghiêng nước nghiêng thành

  Giải thích: Sắc đẹp có thể khiến người ta say mê đến nỗi mất thành, mất nước

 3. Các biện pháp tu từ từ vựng trong đoạn trích và tác dụng:

     - Biện pháp so sánh: “thua”, “kém”: chứng tỏ nhan sắc của Kiều đã vượt ra ngoài tưởng tượng, ngoài quy luật của tự nhiên.

     - Ẩn dụ: Làn thu thủy, nét xuân sơn.

=> Tác giả dùng hình ảnh so sánh, ẩn dụ để miêu tả đôi mắt Thúy Kiều. Đôi mắt tuyệt đẹp, sâu thăm thẳm, long lanh như làn nước mùa thu, nét mày cong, mềm mại, thanh thoát như nét núi mùa xuân.

- Nghệ thuật nhân hóa "hoa ghen, liễu hờn"  gợi 1 sự ganh ghét đố kị của tạo hóa trước nhan sắc mặn mà, kiêu sa của Kiều.

- Phép nhân hóa nhằm tuyệt đối hóa vẻ đẹp toàn mĩ của Thúy Kiều: nghiêng nước nghiêng thành, giai nhân tuyệt thế, có một không hai khiến cho tạo hóa (đẹp như hoa) cũng phải ghen tị, đố kị với sự đằm thắm của Thúy Kiều, liễu nổi tiếng là xanh mướt, mềm mại, yểu điệu, thướt tha mà cũng phải hơn dỗi vì thua mái tóc của nàng.

- Bút pháp nghệ thuật ước lệ được nhà thơ Nguyễn Du sử dụng khi gợi tả vẻ đẹp của Thúy Kiều trong tác phẩm “Truyện Kiều” là bút pháp nghệ thuật cổ điển, lấy vẻ đẹp của thiên nhiên để gợi tả vẻ đẹp của con người . Các phép tu từ đều tập trung làm nổi bật gương mặt kiêu sa, diễm lệ, thanh tú, thông minh, tài hoa của Thúy Kiều đồng thời dự báo số phận nàng Kiều “Tài đành họa hai” – cuộc đời trắc trở, vất vả.

Link bài học:
Thảo luận
1

Chuyện người con gái Nam Xương - Nguyễn Dữ

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Bài tập tự luận

2

Hoàng Lê nhất thống chí - Ngô gia văn phái

 1. Bài tập trắc nghiệm

 2. Bài tập tự luận

3

Chị em Thúy Kiều - Nguyễn Du

 1. Bài tập trắc nghiệm

 2. Bài tập tự luận

4

Cảnh ngày xuân - Nguyễn Du

 1. Bài tập trắc nghiệm

 2. Bài tập tự luận

5

Kiều ở lầu Ngưng Bích - Nguyễn Du

 1. Bài tập trắc nghiệm

 2. Bài tập tự luận

6

Đồng chí - Chính Hữu

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Hệ thống đề luyện

7

Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Hệ thống đề luyện

8

Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận

 1. Video bài giảng

 2. Hệ thống đề luyện

 3. Bài tập trắc nghiệm

 4. Bài tập tự luận

9

Bếp lửa - Bằng Việt

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Bài tập tự luận

10

Ánh trăng - Nguyễn Duy

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Hệ thống đề luyện

11

Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải

 1. Video bài giảng

 2. Hệ thống đề luyện

 3. Bài tập trắc nghiệm

12

Sang thu - Hữu Thỉnh

 1. Video bài giảng

 2. Hệ thống đề luyện

 3. Bài tập trắc nghiệm

13

Viếng lăng Bác - Viễn Phương

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Bài tập tự luận

14

Nói với con - Y Phương

 1. Video bài giảng

 2. Hệ thống đề luyện

 3. Bài tập trắc nghiệm

15

Lặng lẽ Sa Pa - Nguyễn Thành Long

 1. Video bài giảng

 2. Hệ thống đề luyện

 3. Bài tập trắc nghiệm

16

Làng - Kim Lân

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Bài tập tự luận

17

Những ngôi sao xa xôi - Lê Minh Khuê

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Bài tập tự luận

18

Chiếc lược ngà - Nguyễn Quang Sáng

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

19

Bến quê - Nguyễn Minh Châu

 1. Bài tập trắc nghiệm

 2. Bài tập tự luận

20

Văn bản nhật dụng

 1. Phong cách Hồ Chí Minh - Lê Anh Trà

 2. Phong cách Hồ Chí Minh

 3. Bàn về đọc sách - Chu Quang Tiềm

 4. Bàn về đọc sách

 5. Tiếng nói của văn nghệ - Nguyễn Đình Thi

 6. Tiếng nói của văn nghệ

 7. Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới - Vũ Khoan

 8. Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới