Câu 1 (1 điểm):

Hãy tóm tắt Hồi thứ 14 trích Hoàng Lê nhất thống chí.

Hướng dẫn giải:

​Tôn Sĩ Nghị dễ dàng đưa quân vào Thăng Long, quân lính kiêu căng, chủ quan mà không biết Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy đang tiến quân ra Bắc. Thấy tình hình địch chủ quan, Nguyễn Huệ đã lên ngôi Hoàng Đế (25 tháng Chạp), lấy hiệu là Quang Trung, bắt đầu tiến quân ra Bắc. Ngày 29 đến Nghệ An, vừa đi vừa tuyển mộ binh lính được hơn một vạn quân tinh nhuệ. Quang Trung mở một cuộc duyệt binh lớn, đọc lời phủ dụ tướng sĩ. Ngày 30 tháng Chạp, ông mở tiệc khao quân ăn Tết trước. Ngày 3 tháng Giêng, quân Tây Sơn chiếm đồn Hà Hồi, mờ sáng ngày mùng 5 chiếm được đồn Ngọc Hồi. Quân Thanh ở thành Thăng Long không hề hay biết. Tôn Sĩ Nghị và Lê Chiêu Thống cho quân tưng bừng ăn tết. Quang Trung tiến vào, quân Thanh không chống đỡ nổi, đành bỏ chạy, chen chúc nhau mà chết. Lê Chiêu Thống chạy theo nhà Thanh đến hết cửa ải, Nghị đã khuyên Lê Chiêu Thống tạm lánh nạn rồi trở về nước.


Câu 2 (1 điểm):

Phân tích hình tượng người anh hùng Nguyễn Huệ được thể hiện trong đoạn trích Hồi thứ 14.

Hướng dẫn giải:

1. Quang Trung là người hành động mạnh mẽ, quyết đoán.

- Nghe tin giặc đánh chiếm đến Thăng Long, mất cả 1 vùng đất đai rộng lớn mà ông không hề nao núng "định thân chinh cầm quân đi ngay".

- Chỉ trong vòng một tháng, Nguyễn Huệ đã làm được bao nhiêu việc lớn: Tế cáo trời đất, lên ngôi Hoàng Đế, đốc xuất đại binh ra Bắc.

=> Từ đầu đến cuối, Nguyễn Huệ luôn là con người hành động một cách xông xáo, nhanh gọn, có chủ đích và rất quả quyết.

2. Quang Trung là con người có trí tuệ sáng suốt và nhạy bén:

- Sáng suốt trong việc nhận định tình hình ta và địch:

+ Qua lời dụ tướng sĩ ở Nghệ An, Quang Trung đã khẳng định được chủ quyền của dân tộc: "đất nào sao ấy", "người phương Bắc không phải nòi giống nước ta, bụng dạ ắt khác". Ông còn tố cáo hành động xâm lược phi nghĩa của giặc, vạch rõ tội ác của chúng: "Từ đời nhà Hán đến nay, chúng đã mấy phen cướp bóc nước ta, giết hại nhân dân ta, vơ vét của cải, người mình không thể chịu nổi,..."

+ Quang Trung đã khích lệ tướng sĩ dưới quyền bằng những tấm gương chiến đấu dũng cảm chống ngoại xâm, giành độc lập của dân tộc từ ngàn xưa như: Trưng nữ Vương, Lê Đại Hành, Đinh Tiên Hoàng,...

+ Quang Trung dự kiến được việc Lê Chiêu Thống về nước có thể làm cho một số người phù Lê "thay lòng đổi dạ" với mình nên ông đã có lời dụ với quân lính vừa chí tình vừa nghiêm khắc: "Các ngươi đều là những kẻ có lương tri, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực để dựng lên công lớn. Chớ có quen thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai".

- Sáng suốt trong việc xét đoán bề tôi:

+ Trong dịp hội quân ở Tam Điệp, qua lời của Quang Trung với Sở, Lân ta thấy rõ: Ông là người hiểu việc rút quân của hai vị tướng giỏi này. Đúng ra thì "quân thua tại tướng" nhưng ông hiểu lòng họ, sức mình không địch nổi đội quân hùng tướng hổ nhà Thanh nên đành phải bỏ thành Thăng Long rút về Tam Điệp. Ông không trừng phạt mà còn khen ngợi Sở và Lân.

+ Đối với Ngô Thì Nhậm, ông đánh giá rất cao tài và đức của Ngô Thì Nhậm, cho Ngô Thì Nhậm là kẻ "đa mưu túc trí" nên đoán biết được chủ mưu rút quân là của Ngô Thì Nhậm, để bảo toàn lực lượng, dẹp việc binh đao.

3. Quang Trung là người có tầm nhìn xa trông rộng.

- Mới khởi binh đánh giặc, chưa giành được tấc đấc nào mà Quang Trung đã khẳng định chắc như đinh đóng cột "phương lược tiến đánh đã có sẵn".

- Đang trên lưng ngựa, Quang Trung đã nói với Ngô Thì Nhậm về quyết sách ngoại giao và kế hoạch 10 năm tới của ta. Đối với địch, thường thì biết là thắng việc binh đao không thể dứt ngay được: "Chờ mười năm nữa ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu quân mạnh thì ta có sợ gì chúng".

4. Quang Trung là vị tướng có tài thao lược hơn người.

- Cuộc hành quân thần tốc do Quang Trung chỉ huy vẫn còn làm hậu thế ngạc nhiên. Vừa hành quân, vừa đánh giặc mà Quang Trung hoạch định kế hoạc từ 25 tháng Chạp đến mùng 7 tháng Giêng sẽ vào ăn tết ở Thăng Long. Nhưng thực tế, quân ta đã giành chiến thắng trước 2 ngày.

- Hành quân xa, liên tục như vậy nhưng quân đội của  do Quang Trung tổ chức vẫn luôn giữ vững đội hình, chỉnh tề.

5. Hình ảnh vị vua lẫm liệt trong chiến trường.

- Ông làm tổng chỉ huy chiến dịch thực sự.

- Dưới sự lãnh đạo tài tình của vị tổng chỉ huy, nghĩa quân đã đánh những trận quyết liệt, áp đảo kẻ thù, giữ được bí mật để tạo bất ngờ khiến địch không kịp trở tay.

- Khí thế đội quân làm cho kẻ thù khiếp vía và hình ảnh người anh hùng được khắc họa lẫm liệt: nhà vua "cưỡi voi đi đốc thúc" với tấm áo bào màu đỏ đã sạm đen khói súng.

=> Hình ảnh người anh hùng được khắc họa khá đậm nét với tính cách mạnh mẽ, trí tuệ sáng suốt, nhạy bén, tài dụng binh như thần, là người tổ chức và là linh hồn của chiến công vĩ đại.


Câu 3 (1 điểm):

Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh và số phận bi đát của vua tôi Lê Chiêu Thống được thể hiện như thế nào trong đoạn trích Hồi thứ 14?

Hướng dẫn giải:

​1. Sự thảm bại của quân tướng nhà Thanh:

- Tôn Sĩ Nghị kiêu căng, tự mãn, chủ quan:

+ Thấy kéo quân vào thành Thăng Long dễ dàng, Tôn Sĩ Nghị cho là bình an vô sự, không đề phòng gì cả.

+ Y còn là tên tướng bất tài, cầm quân mà không biết tình hình thực hư, kiêu căng, tự mãn, không chút đề phòng.

- Khi quân Tây Sơn đánh tới:

+ tướng thì "sợ mất mật, ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp, chuồn trước qua cầu phao".

+ quân thì "ai nấy đều rụng rời sợ hãi", "bỏ chạy tán loạn, giày xéo lên nhau mà chết".

2. Số phận thảm hại của bọn vua tôi phản nước hại dân Lê Chiêu Thống:

- Lê Chiêu Thống vì lợi ích riêng của dòng họ mà đem vận mệnh dân tộc đặt vào tay kẻ thù.

- Kết cục: chịu chung số phận bi thảm của kẻ vong quốc. Vội vã cùng bề tôi thân tín "đưa thái hậu qua sông", chạy bán sống bán chết, cướp cả thuyền của dân để qua sông. Đuổi kịp Tôn Sĩ Nghị, chỉ còn biết "nhìn nhau than thở, oán giận chảy nước mắt". Sau khi chạy qua Trung Quốc, phải cạo đầu, tết tóc, ăn mặc giống như người Mãn Thanh và cuối cùng gửi nắm xương tàn nơi đất khách quê người.

=> Lối kể chuyện xen kẽ miêu tả những chi tiết thực, sinh động, nhịp điệu nhanh, dồn dập, gấp gáp gợi sự hoảng hốt của kẻ thù. Ngòi bút miêu tả khách quan nhưng vẫn hàm chứa sự hả hê, sung sướng của người viết trước sự thảm bại của nhà Thanh và có chút gì đó xót thương dành cho vua tôi Lê Chiêu Thống.


Câu 4 (1 điểm):

Cho đoạn văn sau:

"Lần này ta thân hành cầm quân, phương lược tiến đánh đã có tính sẵn. Chẳng qua mươi ngày có thể đuổi được người Thanh. Nhưng nghĩ chúng là nước lớn gấp mười lần nước mình, sau khi bị thua một trận, ắt lấy làm thẹn mà lo mưu báo thù. Như thế thì việc binh đao không bao giờ dứt. Không phải là phúc cho dân, nỡ nào mà làm như vậy. Đến lúc ấy, chỉ có người khéo lời lẽ mới dẹp nổi việc binh đao, không phải Ngô Thì Nhậm thì không ai làm được. Chờ mười năm nữa, cho ta được yên ổn mà nuôi dưỡng lực lượng, bấy giờ nước giàu dân mạnh, thì ta có sợ gì chúng".

a. Đoạn trích trên trích trong văn bản nào? Của ai?

b. Đoạn văn là lời nói của ai với ai? Nói trong hoàn cảnh nào? Về vấn đề gì?

c. Qua lời nói trên, em hiểu đó là người như thế nào? Trình bày ý hiểu của em bằng một đoạn văn theo lối quy nạp khoảng 10 câu sử dụng phép thế để liên kết câu, và một câu ghép.

Hướng dẫn giải:

​a. Đoạn trích trích trong Hoàng Lê nhất thống chí - Hồi thứ mười bốn. Của nhóm tác giả Ngô gia văn phái.

b. Đoạn văn là lời của Quang Trung nói với tướng sĩ, khi ông ở Tam Điệp. Đoán biết kế sách rút quân để bảo toàn lực lượng là của Ngô Thì Nhậm, ông không phạt tướng Sở, Lân mà còn khen ngợi để khích lệ tinh thần họ.

c. Qua đoạn trích trên cho thấy Quang Trung là người có nhãn quan nhạy bén, sáng suốt, tinh tế sắc sảo trong nhìn người và dụng binh như thần.

Link bài học:
Thảo luận
1

Chuyện người con gái Nam Xương - Nguyễn Dữ

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Bài tập tự luận

2

Hoàng Lê nhất thống chí - Ngô gia văn phái

 1. Bài tập trắc nghiệm

 2. Bài tập tự luận

3

Chị em Thúy Kiều - Nguyễn Du

 1. Bài tập trắc nghiệm

 2. Bài tập tự luận

4

Cảnh ngày xuân - Nguyễn Du

 1. Bài tập trắc nghiệm

 2. Bài tập tự luận

5

Kiều ở lầu Ngưng Bích - Nguyễn Du

 1. Bài tập trắc nghiệm

 2. Bài tập tự luận

6

Đồng chí - Chính Hữu

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Hệ thống đề luyện

7

Bài thơ về tiểu đội xe không kính - Phạm Tiến Duật

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Hệ thống đề luyện

8

Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận

 1. Video bài giảng

 2. Hệ thống đề luyện

 3. Bài tập trắc nghiệm

 4. Bài tập tự luận

9

Bếp lửa - Bằng Việt

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Bài tập tự luận

10

Ánh trăng - Nguyễn Duy

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Hệ thống đề luyện

11

Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải

 1. Video bài giảng

 2. Hệ thống đề luyện

 3. Bài tập trắc nghiệm

12

Sang thu - Hữu Thỉnh

 1. Video bài giảng

 2. Hệ thống đề luyện

 3. Bài tập trắc nghiệm

13

Viếng lăng Bác - Viễn Phương

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Bài tập tự luận

14

Nói với con - Y Phương

 1. Video bài giảng

 2. Hệ thống đề luyện

 3. Bài tập trắc nghiệm

15

Lặng lẽ Sa Pa - Nguyễn Thành Long

 1. Video bài giảng

 2. Hệ thống đề luyện

 3. Bài tập trắc nghiệm

16

Làng - Kim Lân

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Bài tập tự luận

17

Những ngôi sao xa xôi - Lê Minh Khuê

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

 3. Bài tập tự luận

18

Chiếc lược ngà - Nguyễn Quang Sáng

 1. Video bài giảng

 2. Bài tập trắc nghiệm

19

Bến quê - Nguyễn Minh Châu

 1. Bài tập trắc nghiệm

 2. Bài tập tự luận

20

Văn bản nhật dụng

 1. Phong cách Hồ Chí Minh - Lê Anh Trà

 2. Phong cách Hồ Chí Minh

 3. Bàn về đọc sách - Chu Quang Tiềm

 4. Bàn về đọc sách

 5. Tiếng nói của văn nghệ - Nguyễn Đình Thi

 6. Tiếng nói của văn nghệ

 7. Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới - Vũ Khoan

 8. Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới